Phân biệt một số công trình kiến trúc tôn giáo ở Việt Nam

Trong các tour du lịch khám phá văn hóa ở Việt Nam, có một điểm đến rất thu hút du khách, đó là các công trình kiến trúc tâm linh. Mỗi công trình có tên gọi khác nhau, thờ cúng những vị thần khác nhau, mang một tầng văn hóa khác nhau. Bài viết này mạn phép giới thiệu ở mức độ cơ bản các công trình tâm linh trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam, để từ đó có thể phân biệt được sơ sơ các công trình này.

1. Tín ngưỡng dân gian Việt nam – thờ thần linh và những người có công lớn

Đình: Thờ Thành hoàng làng; Thành hoàng là người có công với dân, khai phá lập làng dựng ấp hoặc sáng tạo nên một nghề nhất định (ông tổ nghề). Thường thì các vị Thành hoàng đều được đức vua sắc phong chính thức. Đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa, nơi tổ chức hội họp, lễ hội hoặc các sự kiện quan trọng của một cộng đồng dân cư. Nói một cách khác, đây chính là trụ sở làng xã thời phong kiến. Ví dụ như đình Bảng (Bắc Ninh), đình Trà Cổ (Móng Cái), đình Bình Thủy (Cần Thơ)…

Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh.

Đền: Thờ các nhân vật lịch sử, những người có công lớn với dân, với nước, những vị minh quân, anh hùng dân tộc được tôn sùng như thần thánh, hoặc thờ các vị thần linh. Đền mang tính tưởng niệm, ghi nhớ công ơn chứ không phải là nơi sinh hoạt cộng đồng như đình. Quy mô của đền cũng thường nhỏ hơn đình. Ví dụ: đền Hùng (Phú Thọ), đền Trần (Nam Định cũ – nay là Ninh Bình), đền thờ vua Đinh – vua Lê (Ninh Bình), đền Kiếp Bạc (Hải Dương cũ – nay là Hải Phòng), đền Nguyễn Trung Trực (Phú Quốc), hệ thống đền thờ Đức Thánh Tản Viên trên núi Ba Vì (Hà Nội)…

Đền Đô ở tỉnh Bắc Ninh, còn gọi là đền Lý Bát Đế, thờ 8 vị vua triều Lý.

Nghè: Thờ Thành hoàng làng, thờ thần thánh hoặc nhân vật quan trọng ở địa phương. Đây là một dạng đền nhỏ do vậy một số làng vừa có đình vừa có nghè. Trong một số trường hợp là đền phụ của đền chính để thuận tiện cho người dân địa phương sinh hoạt tâm linh. Ví dụ nghè Vân La (Hải Phòng).

Miếu: Thờ các thần linh, thánh thần của địa phương nhưng ở quy mô nhỏ gọn như miếu thổ địa, sơn thần, thủy thần, hà bá… Miếu gắn bó chặt chẽ với đời sông cư dân địa phương. Miếu nhỏ đôi khi còn được gọi là Miễu theo tiếng miền Nam. Ví dụ miếu Bà Chúa Xứ (An Giang), miếu Long Thuyền (Huế).

Phủ: Thờ thánh Mẫu, đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Tại các phủ thường diễn ra nghi lễ hầu đồng. Ví dụ: phủ Tây Hồ (Hà Nội), phủ Dầy (Nam Định cũ, nay là Ninh Bình) đều thờ mẫu Liễu Hạnh.

Điện thờ: Là quy mô nhỏ của phủ. Có thể của cộng đồng hoặc cá nhân tự lập, đặt trong nhà.

2. Phật giáo

Chùa: Thờ Phật. Đây là nơi thờ tự và tu hành của Phật giáo, một số còn là nơi cất giữ tro cốt các vị Đại sư. Theo tiếng Hán Việt, chùa được gọi là “Tự”. Theo tiếng Phạn là Stùpa (chữ Sankrit), hoặc Thùpa (Chữ Pàli), nghĩa là “tháp” – để cất giữ xá lợi Phật, tro cốt nhà sư. Trong chùa có các nhà sư, tăng, ni. Một số chùa có sự giao thoa văn hóa tín ngưỡng khá rõ, như chùa thờ Thần (Tiền Phật hậu Thánh), chùa thờ Mẫu (tiền Phật hậu Mẫu)… Một số công trình tâm linh không thờ Phật nhưng vẫn gọi là chùa, ví dụ chùa Cầu (Hội An, Đà Nẵng)…

Chùa Cầu ở Hội An (Đà Nẵng).

Tịnh xá: Thờ Phật. Theo hệ phái Khất sĩ. Ví dụ: Tịnh xá Ngọc Hòa ở Nhơn Lý (Quy Nhơn cũ, nay là tỉnh Gia Lai) – nơi có bức tượng Phật đôi cao nhất Việt Nam, Niết Bàn tịnh xá (Vũng Tàu)…

Tu viện: Là nơi tu tập của tăng, ni, thường là những ngôi chùa lớn. Ví dụ: tu viện Huệ Quang (Tp. HCM), tu viện Nguyên Thiều (Bình Định)…

Thiền viện: Là nơi chuyên tu theo thiền định, song hành “Thiền – Giáo”, cũng thường là những ngôi chùa lớn. Ví dụ: Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc), Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh) và Trúc Lâm Phương Nam (Cần Thơ), thiền viện Vạn Hạnh (Tp.HCM).

Tổ đình: Là những ngôi chùa tổ, bắt đầu của một giáo phái do 1 vị tổ sư khai sáng. Ví dụ: tổ đình Thập Tháp (An Nhơn, Gia Lai), tổ đình Long Khánh (Quy Nhơn, Gia Lai)…

Chùa Thập Tháp (Bình Định)

Am: Là công trình kiến trúc thờ Phật ở quy mô rất nhỏ. Cũng có thể là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của địa phương. Ví dụ: tiền thân của tổ đình Thập Tháp (An Nhơn, Gia Lai) là một thảo am được xây dựng từ thế kỷ 17.

Công giáo

Chủng viện (seminary): Nơi đào tạo các linh mục tương lai. Theo tiếng Latin là seminarium, nghĩa là vườn ươm. Gồm có đại chủng viện và tiểu chủng viện. Linh mục thuộc quyền quản lý của giám mục.

Tiểu chủng viện Làng Sông ở Tuy Phước (Bình Định).

Tu viện (Monastère): Nơi tu hành theo cách hoạt động giữa đời. Ngoài việc tu hành, các tu sĩ còn làm các công việc ngoài khuôn viên tu viện, đi sát với giáo dân. Linh mục thuộc quyền quản lý của giám mục.

Tu viện Đa Minh (Nam Định)

Đan viện (Abbaye): Nơi tu hành theo cách ẩn tu, chiêm niệm. Các đan sĩ chủ yếu đọc kinh và cầu nguyện theo lối đặc thù, sinh hoạt phần lớn trong đan viện, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Đan sĩ thuộc quyền quản lý của viện phụ.

Nhà dòng (Couvent): Nơi tu hành của các tu sĩ thuộc hội dòng, thường gắn với các dòng hành khất như Don Bosco, Đaminh, Phanxicô, Cát Minh… Nhà dòng tập trung tập trung vào các hoạt động tông đồ hơn là đời sống chiêm niệm. Các tu sĩ thường thực hiện nhiệm vụ truyền bá, giáo dục và phục vụ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội.

Nhà mục vụ Don Bosco Đà Lạt

Nhà thờ (Church): Nơi sinh hoạt tôn giáo của một cộng đồng giáo dân địa phương, có linh mục phụ trách.

Nhà thờ Hưng Nghĩa (Nam Định)

Nhà nguyện (Chapel): Là nơi cầu nguyện, nhỏ gọn, có thể là một công trình phụ trợ trong một tòa nhà khác. Thường phục vụ cho một nhóm nhỏ.

Thánh đường (Cathedral): Là nhà thờ quan trọng nhất của một giáo phận, nơi đặt trụ sở giám mục, có ngai (cathedra) của Giám mục. Thánh đường có nơi còn được gọi là Nhà thờ chính tòa, được xem như trung tâm hành chính của giáo phận. Ví dụ nhà thờ Lớn Hà Nội, nhà thờ Đức Bà (Tp.HCM).

Nhà thờ Lớn Hà Nội

Vương cung thánh đường (Basilica): là cấp bậc cao hơn của thánh đường, do Vatican phong tặng. Nơi đây có ý nghĩa đặc biệt, thiêng liêng về mặt lịch sử, hành hương hoặc phép lạ. Gồm có đại vương cung thánh đường và tiểu vương cung thánh đường. Hiện nay, ở nước ta có 4 tiểu vương cung thánh đường: Vương cung thánh đường Sở Kiện (nhà thờ Kẻ Sở) ở Hà Nội, thuộc Tổng giáo phận Hà Nội; Vương cung thánh đường Đức mẹ Vô Nhiễm Phú Nhai (nhà thờ Phú Nhai) ở Nam Định cũ – nay là Ninh Bình – thuộc Giáo phận Bùi Chu; Vương cung thánh đường Đức mẹ La Vang ở Quảng Trị, thuộc Giáo phận Huế; Vương cung thánh đường Chính tòa Đức mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (nhà thờ Đức Bà), thuộc Giáo phận Sài Gòn.

Công trình khác

Quán: Là dạng đền gắn với Đạo giáo (Lão giáo). Thờ thần linh tương tự Trung Quốc như Ngọc Hoàng, Nam Tào – Bắc Đẩu, Tam Thanh (Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc, Cửu Diệu Tinh Quân. Từ thế kỷ 11, đạo Lão ở nước ta nặng xu hướng thần tiên. Sang thế kỷ 14, Nho giáo khủng hoảng khiến một số nhà nho và người dân quan tâm nhiều hơn tới Lão giáo, các điện thờ có sự phát triển mới, việc thờ cúng thần linh tương tự Trung Quốc. Ví dụ: Quán Thánh (Hà Nội), Linh Tiên Quán (Hội An, Đà Nẵng).

  • Góc nhỏ: Ngũ Nhạc, còn gọi là Ngũ Nhạc Linh Từ, Ngũ Nhạc Đại Đế, Ngũ Phương Ngũ Lão Quân – là 5 vị thần cai quản 5 ngọn núi thiêng (ngũ nhạc danh sơn). Gồm: Đông Nhạc (Thái Sơn – Mộc) cai quản phúc họa nhân gian; Nam Nhạc (Hoành Sơn – Hỏa) cai quản thủy tộc và lửa; Tây Nhạc (Hoa Sơn – Kim) cai quản hành Kim và loài chim; Bắc Nhạc (Hằng Sơn – Thủy) cai quản sông biển và các loài thú; Trung Nhạc (Tùng Sơn – Thổ) cai quản cây cối, núi rừng.
  • Cửu Diệu Tinh Quân là 9 vị thần trông coi 9 thiên thể chuyển động trên trời gồm: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Thái Dương (mặt trời), Thái Âm (mặt trăng), sao La Hầu, sao Kế Đô.

-Việt An-

Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *