Trên đường quốc lộ 1A đoạn qua cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, có một cột cờ tổ quốc oai nghiêm sừng sững. Hơn 70 năm, qua nhiều hình dạng khác nhau nhưng chưa một ngày nào lá cờ tổ quốc vắng bóng trên bầu trời nơi đây.
Địa chỉ: Cột cờ Hiền Lương nằm cạnh cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, huyện Vĩnh Linh (cũ), nay là xã Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị.
Cột cờ giới tuyến từ phía cầu Hiền Lương nhìn qua.
Lá cờ đầu tiên bên bờ giới tuyến
Theo HIệp định Geneve, các đồn trạm Liên hợp khu vực giới tuyến được phép treo cờ hàng ngày. Tháng 8/1954, để chuẩn bị kỷ niệm 9 năm ngày Quốc khánh, phân đội 1 Công an giới tuyến Hiền Lương được Ban liên hợp đình chiến Bình Trị Thiên yêu cầu dựng một cột cờ trước đồn. Ngày 10/8/1954, phía ta dùng cây phi lao cao 12m làm cột cờ, trên đó treo lá cờ rộng 3,2mx4,8m = 15,36m2. Lúc đó phía ta đặt 10 đồn và 1 trạm biên phòng giới tuyến đoạn từ Cửa Tùng đến Cù Bai và hầu hết đều treo cờ kích thước 0.8-1.2m. Những lá cờ tổ quốc đầu tiên bên giới tuyến sông Bến Hải tung bay phấp phới. Đồn Công an vũ trang 54 (Đồn 54) ở đây được giao nhiệm vụ bảo vệ ngọn cờ đất nước bên cầu Hiền Lương với mệnh lệnh: “Cờ còn là hậu phương lớn miền Bắc còn, Tổ quốc còn”.
Những hình ảnh cột cờ nơi giới tuyến được trưng bày trong Nhà trưng bày Vĩ tuyến 17 và khát vọng thống nhất.
Những cuộc chọi cờ liên tiếp mang màu sắc chính trị
Phía ta cắm cờ thì ở phía bờ Nam sông Bến Hải, phía địch cũng có hành động tương tự, cắm cờ tam tài lên nóc lô cốt Xuân Hòa, cao 15 mét. Thấy vậy, bà con 2 bên bờ sông đều mong muốn cờ ta nhất định phải cao hơn cờ địch để thể hiện và cổ vũ lòng tự tôn dân tộc. Vì thế chiến sĩ ta lên Rú Lịnh (Vĩnh Nam, Vĩnh Hòa) tìm cây gỗ cao 18m về thay cột cờ cũ, treo lá cờ rộng 24m2 bằng vải satanh.
Lá cờ bên cầu Hiền Lương trong chiến tranh. Ảnh sưu tầm.
Từ 30/6/1955, Pháp chuyển giao các đồn cảnh sát cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Từ đây, cuộc chọi cờ giữa 2 bên thực sự trở nên gay gắt hơn. Tháng 2/1956, Ngô Đình Diệm cho xây cột cờ bằng xi măng cốt thép cao 30m, treo lá cờ 3 sọc lớn, có đèn nhấp nháy đủ màu. Loa phóng thanh địch cũng ra rả “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cho dựng cột cờ cao 30 mét ở Vĩ tuyến 17 để dân chúng Bắc Việt thấy rõ chánh nghĩa quốc gia”.
Tháng 7/1957, phía ta dựng cột cờ bằng ống thép cao 34.5m. Đây là sản phẩm do Cục Cơ khí điện nước thiết kế, thi công, được làm tại Hà Nội và vượt gần 600km trong 10 ngày đêm để đưa từ ngoài Bắc vào Quảng Trị. Một lá cờ rộng 108m2 được treo lên; trên đỉnh cột gắn thêm 1 ngôi sao bằng đồng đường kính 1.2m; 5 đỉnh ngôi sao có một chùm 15 bóng điện loại 500W.
Ngôi sao bằng đồng từng được đặt trên đỉnh cột cờ giới tuyến.
Quá bất ngờ, địch vội vàng nâng cột cờ của chúng lên 35m và tuyên bố “Bắc Việt muốn chọi cờ, nhưng chọi sao nổi quốc gia!”.
Chính quyền Sài Gòn tổ chức lễ thượng cờ ở bờ Nam sông Bến Hải (1961).
Năm 1962, Chính phủ ta đã điều Tổng công ty lắp máy Việt Nam chở vật liệu từ Hà Nội vào xây cột cờ cao 38,6 mét, treo lá cờ 134m2, nặng 15kg. Cách đỉnh cột cờ 10m có một cabin bằng sắt đường kính 1.7m, lan can xung quanh cao 1.3m. Cột cờ xuyên qua tâm của nền cabin, từ đây các chiến sĩ ta có thể đứng thu và treo cờ một cách thuận tiện. Đây là cột cờ cao nhất giới tuyến. Nhân dân bờ Nam tận vùng Cửa Việt, Chợ Cầu, Gio An… ở xa hàng chục cây số vẫn nhìn thấy rõ lá cờ Tổ quốc đang tung bay, khích lệ tinh thần của quân và dân kiên cường chiến đấu. Đến đây thì cuộc chiến chọi độ cao của cờ dừng lại.
Phía trước cột cờ giới tuyến ngày nay có bức tranh bản đồ Việt Nam trải nghiêng theo bậc tam cấp.
Từ chọi cờ trong hòa bình sang chọi bằng vũ lực
Khi cuộc đối đầu giữa ta và địch chuyển từ tranh chấp hòa bình sang vũ lực, cuộc chiến “chọi cờ” chuyển hướng ác liệt, nơi đây trở thành mục tiêu đánh phá đầu tiên của máy bay Mỹ. Chúng quyết tâm phá hủy ngọn cờ để diệt luôn nhuệ khí của quân ta. Giữa cuộc chiến tranh phá hoại Vĩnh Linh với quy mô và cường độ ngày càng dữ dội, các chiến sĩ phải đổ máu để giữ cho cột cờ đứng vững và lá cờ được vươn cao. Ngày 8/1/1965, Nguyễn Cao Kỳ lái máy bay AD6 bắn phá cột cờ, nhưng bị pháo cao xạ Vĩnh Linh bắn bị thương suýt chết. Ngày 17/8/1965, một tốp máy bay “thần sấm” Mỹ lao đến ném bom cột cờ; mảnh bom bắn đầy vào trụ nhưng cột cờ vẫn đứng vững. Cay cú, máy bay Mỹ nhào xuống thấp hơn, nhưng bị các chiến sĩ bảo vệ cờ bắn trả quyết liệt. Trong cơn hốt hoảng, máy bay Mỹ tự hại chính quân mình khi thả bom trúng đồn cảnh sát ngụy ở bờ Nam làm 87 tên chết và bị thương, trong đó có tên đồn trưởng. Ngày 2/8/1967, địch lại tập trung nhiều tốp máy bay và pháo binh từ căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu và hạm đội 7 ở ngoài khơi thay nhau ném bom một ngày liền, làm cho cầu Hiền Lương bị sập và cột cờ ta bị gãy. Ngay đêm đó, một cột cờ mới lại được dựng lên chỉ bằng một cột điện chắp thêm cây gỗ, làm nức lòng đồng bào. Cũng ngay trong đêm đó, các chiến sĩ đặc công của ta đã vượt sông, dùng bộc phá đánh sập cột cờ bờ Nam, chấm dứt vĩnh viễn lá cờ ba sọc của giặc.
Trong cuộc chiến bảo vệ lá cờ giới tuyến, có 300 trận đánh lớn nhỏ đã diễn ra, ta cũng 3 lần bắt biệt kích địch vượt sông đặt mìn phá hoại cột cờ. Về phía ta, 13 đồng chí công an vũ trang và dân quân đã hy sinh; 8 đồng chí bị thương.
Từ cột cờ nhìn về phía cầu Hiền Lương (nơi có cổng chào), Nhà Liên hợp (nhà lợp mái tranh ở giữa hình).
- Đọc thêm: Cuộc chiến đồn Liên hợp bên bờ sông Bến Hải
- Lằn ranh lịch sử trên cầu Hiền Lương
- Những chiếc loa bên bờ sông Bến Hải – nhân chứng lịch sử không quên từ cuộc chiến âm thanh
Để lá cờ kiêu hãnh vươn cao
Mỗi ngày, cờ được treo trong thời gian 6h30-18h30, nhưng phía ta luôn thượng cờ sớm hơn và hạ cờ muộn hơn, dịp tết hoặc lễ Quốc khánh thì để nguyên cả ngày. Năm 1962, cột cờ cao nhất giới tuyến được dựng lên với độ cao 38.6m. Trên cao, gió mạnh, khổ cờ lớn nên khá dễ rách, đặc biệt là ở đuôi cờ. Vì vậy thông thường mỗi tuần phải thay cờ một lần. Lá cờ nặng đến 15kg, cồng kềnh; nhất là lá cờ dễ bị cuốn vào dây chằng gây khó khăn. Thế nên hàng ngày mỗi khi kéo cờ phải huy động cả tiểu đội hỗ trợ. Sau đó, phải trèo qua 56 bậc thang lên tới cabin, còn gọi là chuồng chim cách đỉnh cột 10m, để treo cờ.
Cột cờ ngày nay mô phỏng lại bản trước kia, cũng có cabin trên cột cờ.
Từ năm 1965, bom Mỹ đã đánh phá ác liệt, cabin lại là tâm điểm hứng chịu đạn pháo để ta không thể thay cờ. Sáng kiến đối phó được đưa ra: dùng rơm bện thành con cúi, quấn nhiều lớp đậy vào nắp cabin, tạo nên một công sự che chắn cho các chiến sĩ. Hầu như các mảnh pháo địch đều găm vào con cúi. Vì thế lá cờ tổ quốc vẫn kiêu hãnh bay trên bầu trời. Mùa khô còn đỡ; mùa mưa nước sông dâng cao, ngập lụt quanh cột cờ. Cứ thấy quân ta xuất hiện là pháo địch lại nã vào. Ta bèn dùng thân cây chuối kết lại thành công sự nổi trên mặt nước, tiếp tục tiến lên treo cờ.
Từ năm 1954 đến tháng 10/1967, qua nhiều lần thay đổi cột cờ, cột cờ phía Bắc Hiền Lương đã dùng hết 267 lá cờ các cỡ. Năm 1967, cột cờ 38.6 mét bị bom Mỹ đánh gãy, các chiến sĩ công an đã thêm 11 lần dựng lại cột cờ bằng gỗ cao từ 12m – 18m, 42 lần thay lá cờ.

Dệt nên tình yêu nước
Tùy theo thực tế mà thông thường mỗi tuần hoặc mỗi tháng ta thay một lá cờ. Để tiết kiệm, dù rách nhưng thường phải vá lại đến 5, 7 lần thì ta mới thay một lá cờ mới hoàn toàn. Ban đầu, cờ tổ quốc được chuyển từ Bắc vào. Nhưng từ năm 1960, việc vận chuyển, rồi đi nhận cờ trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, Bộ tư lệnh quyết định cấp một máy may, cấp tiền mua vải cho Ban hậu cần Công an nhân dân vũ trang Vĩnh Linh để chủ động may cờ tổ quốc. Lúc đó, một lá cờ rộng vài trăm mét vuông, nặng 15kg thì cần dùng 122m vải đỏ và 12m vải vàng, ghép từ 10 khổ cờ 0.8-1.2m với nhau. Mỗi đường may phải chần 3, 4 lần chỉ cho chắc chắn thì lá cờ mới chịu được sức gió trên cao. May xong một lá cờ mất 5-6 ngày. Sau này có máy móc hỗ trợ và làm quen tay hơn giảm còn 2-3 ngày. Ban đầu, cờ được may ngay tại khu vực Hiền Lương. Sau này, Mỹ ném bom quá rát nên chuyển về xã Vĩnh Hòa và Vĩnh Trung rồi dùng xe đạp chở cờ vào Hiền Lương.
Mô hình người mẹ may cờ trong Nhà trưng bày Vĩ tuyến 17 và khát vọng thống nhất.
Phía sau lằn đạn địch, mẹ Trần Thị Viễn, mẹ Ngô Thị Diệm, chiến sĩ Nguyễn Đức Lãng… đã đêm ngày miệt mài may vá cờ. Chiến sĩ Lãng ban đầu là người ra Hà Nội nhận cờ, sau đó trở thành thợ may cờ khi công việc được chuyển về Vĩnh Linh. Còn mẹ Diệm, mẹ Viễn dùng kim chỉ cùng đôi bàn tay dẻo dai để vá cờ. Sau mỗi trận đánh, cờ bị rách, mẹ Nguyễn Thị Diệm sẽ vá lại; có lúc đến tận chân cột cờ để vá cờ cho kịp. Lúc nào làm không kịp, mẹ lại chong đèn thức thâu đêm trong hầm để vá. Không đủ vải vá cờ, mẹ động viên các em học sinh quyên góp khăn quàng đỏ để làm vải vá cờ.
Phía trước là bậc tam cấp để đi lên cột cờ.
Tung bay là tung bay, cờ đỏ sao vàng
Ngày nay cột cờ giới tuyến được xây dựng kiên cố, gồm phần đài và cột cờ. Cột cờ được đặt trên đài cao có kiến trúc tròn vững chãi. Cột cờ cao 28m, được làm bằng 6 đoạn thép ống nối với nhau. Cờ được treo lên bằng hệ thống dây cáp, ròng rọc và bộ phận tời. Trên đỉnh cột cờ còn gắn thêm ngôi sao vàng 5 cánh.
Bên dưới cột cờ là phần đài cờ, xung quanh trang trí hình ảnh quân dân ta họp bàn tác chiến và chiến đấu.
Phía sau đài cờ có lối đi dành cho người khuyết tật để lên chân cột cờ.
Khuôn viên xung quanh cột cờ là những cây bàng vuông và tảng đá được đem về từ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trên có khắc tên như đảo Sơn Ca, đảo Tiên Nữ…
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |





[…] Đọc thêm: Giữ thắm màu cờ bên cầu Hiền Lương […]