Tượng đài Đức Thánh Trần Hưng Đạo được khởi công xây dựng vào ngày 16/7/1971 và hoàn thành ngày 7/4/1972. Người thiết kế mẫu tượng này chính là nhà điêu khắc Phạm Thông (1943-2016). Ông cũng là tác giả của bức tượng Đức Thánh Trần được đặt ở bến Bạch Đằng (Tp. Hồ Chí Minh) cao 6m, sáng tác năm 1967 và một số bức tượng Trần Hưng Đạo khác đặt ở các khu người Việt tại California (Mỹ). Người đưa bản vẽ ra đời thực là kiến trúc sư Đàm Quang Việt, cùng sự hỗ trợ của Hội Thánh Trần Bình Định và lực lượng hải quân thời bấy giờ.
Trước đó, năm 1968 Đền thờ Đức Thánh Trần tại Quy Nhơn cũng được nhân dân đóng góp xây dựng, nay là địa chỉ 596/17 đường Trần Hưng Đạo. Năm 2007 cả hai công trình này đều được xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.
Dưới lòng tượng đài Trần Hưng Đạo ở Hải Minh có ghi lại thời gian xây dựng.
1. Di chuyển đến tượng đài Trần Hưng Đạo
Điểm xuất phát là bến tàu Hàm Tử ở đường Hàm Tử, phường Quy Nhơn. Sau đó bạn hỏi ghe hoặc tàu đi Hải Minh, sức chứa không quá 10 người, giá vé 7k – 10k/người hoặc có thể bao nguyên tàu. Quãng đường rất ngắn, đi trong vịnh, sóng khá êm và thời gian di chuyển tầm 5 phút nên chỉ đi bằng ghe máy.
Lên ghe thẳng hướng đến Hải Minh ngoài.
Cầu cảng hình chữ T đằng xa, đối diện là doanh trại quân đội. Bạn đi theo con đường bê tông nhỏ bên tay phải nhé.
Men theo con đường bê tông duy nhất bên tay phải, nằm bên hông doanh trại quân đội rồi leo con dốc nhỏ này khoảng 550m, hơn 10 phút là đến nơi.
2. Oai nghiêm tượng đài Trần Hưng Đạo

Tượng đài được xây trên núi Tam Tòa ở độ cao khoảng 50m so với mực nước biển, là phần mũi cuối cùng vươn ra biển của dãy núi Phương Mai. Nơi đây còn được gọi là gành Hổ hoặc Hổ Ky. Tượng cao 11.3m, nặng 60 tấn, riêng phần cánh tay chỉ về phía biển nặng 10 tấn, làm bằng bê tông cốt thép. Hình ảnh Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn hiện lên trong tư thế oai phong lẫm liệt, mặc giáp trụ, vai khoác chiến bào. Chân trái xoay ngang trụ vững, chân phải bước lên trong tư thế sẵn sàng xuất trận; một tay cầm kiếm, một tay chỉ về phương Bắc, cũng chính là hướng biển. Gương mặt quắc thước, hiên ngang, tràn đầy khí phách của một vị thống soái anh hùng. Phần triền núi phía trước tượng trước đây lắp bảng led cỡ lớn với dòng chữ “Tượng đài Trần Hưng Đạo”; nay đang tạm tháo dỡ.
3. Những bức phù điêu quanh bệ tượng
Bệ tượng cao gần 4m, bên ngoài ốp đá cuội, bên trong có cầu thang để đi vào lòng tượng. Xung quanh 4 bức vách, trên nền đá cuội là các bức phù điêu mô tả những giai đoạn ấn tượng trong 3 cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông của vua tôi nhà Trần. Mặt trước bệ tượng là hình ảnh Hưng Đạo vương oai hùng đứng trên mũi thuyền rồng, chỉ huy trận Bạch Đằng Giang lừng lẫy. Góc trái bên dưới của bức phù điêu là dòng chữ “Bạch Đằng giang thủy chiến, Trần Hưng Đạo vương, đại phá Nguyên binh”, nghĩa là Hưng Đạo vương đại phá quân Nguyên trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng”.

- Góc nhỏ: Tháng 12/1287, Trấn Nam vương Thoát Hoan lại dẫn quân tấn công nước ta lần thứ 3. Tháng 2/1988, chiến thắng giòn giã của quân ta tại vùng biển Vân Đồn, đánh tan đạo quân tải lương của giặc đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch chiếm đóng lâu dài của chúng. Mất hết lương thực nuôi quân, khí hậu khắc nghiệt buộc Thoát Hoan phải tính đường rút quân về. Tương tự lúc đi, Thoát Hoan chia ra 2 đạo quân thủy và bộ để rút về. Ngày 30/3/1988 Thoát hoan sai Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đem thủy quân về trước; lại điều Trình Bằng Phi và Ta-tru dẫn kỵ binh theo hộ tống. Nhưng đường sá bị quân ta phá hủy từ trước, đến chợ Đông Triều thì cầu hư, không qua sông được nên chúng đành quay trở lại. Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi không có quân hộ tống, đi rất chậm. Mãi đến ngày 8/4/1288 mới tiến đến trúc động (thuộc sông Giá) thì bị quân ta chặn đánh, buộc địch phải rẽ sang sông Đá Bạch để vào sông Bạch Đằng như ý đồ ban đầu của quân ta. Đích thân thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương chỉ huy trận này. Trước đó, Hưng Đạo vương đã sai tướng Nguyễn Khoái bố trí một trận địa cọc lớn trên sông Bạch Đằng. Sáng 9/4/1288, thủy triều lên, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi vừa tới, Nguyễn Khoái dẫn quân Thánh Dực trên các thuyền nhỏ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua, nhử địch vào trận địa. Đợi thủy triều xuống thì tứ phương tám hướng ùa ra đánh giặc. Thuyền giặc va vào cọc, bị dồn cục, vỡ và chìm dần. Quân giặc lớp thì chống đỡ dưới nước, lớp chạy lên bờ cũng bị quân ta tấn công quyết liệt. Trận đánh trên sông Bạch Đằng vào mùa xuân năm 1288 được xem là trận thủy chiến lớn nhất của lịch sử nước ta. Giặc mất 400 chiến thuyền, 4 vạn quân lính, tướng chỉ huy thủy quân là Trương Ngọc tử trận, các tướng lĩnh khác Như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích bị bắt. Quân ta đánh bại hoàn toàn cuộc xâm lược lần thứ 3 của quân Nguyên – Mông. Đội quân của đế chế Nguyên – Mông từng đánh bại cả châu Âu cả 3 lần thua đau trước một đất nước Đại Việt nhỏ bé.
Mặt sau bệ tượng là hình ảnh các cụ bô lão trong Hội nghị Diên Hồng.

- Góc nhỏ: Tháng Chạp năm Giáp Thân (1/1285), Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông mở hội nghị, mời đại diện bô lão cả nước về điện Diên Hồng ở Thăng Long. Người hỏi kế sách giữ nước và nêu ý kiến “nên đánh hay nên hòa?”. Các vị bô lão đồng thanh như một, muôn người một tiếng “Đánh”.
Bên trái (theo hướng tượng nhìn về biển) là cảnh Hưng Đạo vương dâng gươm cho vua Trần. Góc trên bên trái là dòng chữ “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã”. Cửa vào lòng tượng cũng nằm ở phía này của bệ tượng.

- Góc nhỏ: Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ 2 (1285), khi quân ngoại xâm chiếm được nhiều vùng đất quan trọng, kể cả kinh thành Thăng Long và phủ Thiên Trường. Thế nước Đại Việt lúc này rơi vào cảnh ngặt nghèo, quý tộc và quan lại có người đã nao núng. Trước thế giặc mạnh như chẻ tre, vua Trần Nhân Tông (1258-1303) vờ nói: “Thế giặc mạnh như vậy, có lẽ ta hãy tạm xin hàng”. Không chút nao núng, Trần Quốc Tuấn khảng khái “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã”. Câu nói ấy đã nêu lên tinh thần quyết tâm “Sát Thát” đến cùng trước vận mệnh đất nước.
Bên phải bệ tượng là hình ảnh của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng trước quân giặc. Góc phải phù điêu là câu nói “Ngã ninh vì Nam quỷ, bất vi Bắc vương”, nghĩa là “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”.

- Góc nhỏ: Trần Bình Trọng (1259-1285) thuộc dòng dõi vua Lê Đại Hành. Có tài liệu viết rằng ông là con của danh tướng Lê Tần, được vua ban cho quốc tính họ Trần. Là người tài giỏi, mưu lược, dũng cảm nên ông được vua Trần Thánh Tông gả công chúa Thụy Bảo (con gái vua Trần Thái Tông) cho. Tháng 1/1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ 2, Trấn Nam vương Thoát Hoan (con trai Hoàng đế Hốt Tất Liệt) chỉ huy 50 vạn quân Nguyên tràn vào nước ta. Thế giặc hung hãn nên quân ta buộc phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Trần Bình Trọng được giao nhiệm vụ quan trọng: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc (thuộc Hải Dương và Hưng Yên cũ), cầm chân quân Nguyên, hộ giá 2 vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông cùng bộ máy tối cao của triều đình rút lui an toàn. Ông đã dũng cảm chỉ huy quân lính chặn đánh quân Nguyên một cách quyết liệt dù hoàn toàn không cân sức khi phe ta chỉ có vài nghìn người. Ông cùng binh lính chiến đấu cảm tử, hy sinh đến người cuối cùng; một mặt gây ra sự khiếp đảm cho quân Nguyên, mặt khác kéo dài thời gian cho 2 vua và Hưng Đạo vương rút lui bí mật, không để lại dấu vết. Cuối cùng, Trần Bình Trọng bị bắt, giặc tìm đủ mọi cách chiêu hàng, kể cả lời dụ dỗ làm vương đất Bắc nhưng ông hoàn toàn không khuất phục và hiên ngang quát: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Giặc đã giết ông vào ngày 21 tháng giêng năm Ất Dậu (26/2/1285), khi ông mới trong 26 tuổi. Sau này, nhà Trần đã truy phong tước hiệu “Bảo Nghĩa vương” và tặng 2 chữ “Trung nghĩa” cho sự hy sinh oanh liệt, trung quân ái quốc đến hơi thở cuối cùng của ông.
Tượng nằm trên một khuôn viên chừng 19x25m, xung quanh là lan can cách điệu, kết hợp khéo léo làm ghế ngồi và bồn hoa.
4. Câu chuyện về hướng tay của bức tượng
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn được dựng tượng ở nhiều nơi trên đất nước ta với hai hình tượng phổ biến.
Một là hình tượng Trần Hưng Đạo mặc áo vải, đầu vấn khăn chứ không đội mũ mão, tay trái tì lên đốc kiếm, tay phải cầm tờ “Hịch tướng sĩ” được cuốn trục lại. Tượng này đặt ở đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa), quảng trường 3/2 (Nam Định cũ). Hình ảnh này toát lên tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam, không muốn và không chủ động chiến tranh nhưng tay đặt sẵn lên kiếm, nghĩa là luôn trong thế cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.
Tượng Trần Hưng Đạo ở Nam Định. Ảnh: Hà Vi (sưu tầm).
Hai là hình ảnh Trần Hưng Đạo trọng trang phục võ tướng, đầu đội mũ giáp, tay trái cầm kiếm, tay phải chỉ thẳng ra phía trước, ánh mắt uy dũng. Tượng này đặt ở Hải Minh (Gia Lai), bến Bạch Đằng (Tp. Hồ Chí Minh), công viên Trần Hưng Đạo (Vũng Tàu cũ), công viên Bạch Đằng (Nha Trang). Một điểm trùng hợp là các bức tượng thường được xây gần sông, gần biển, và tay phải của Đức ông thường chỉ thẳng ra hướng này. Có nhiều lý do để giải thích cho hình tượng này.

– Giả thuyết thứ nhất: Năm 1288, trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3. Khi nghe tin báo thủy quân Nguyên do tướng Ô Mã Nhi chỉ huy đã kéo quân về đến sông Bạch Đằng, trước ba quân tướng sĩ, Trần Hưng Đạo chỉ xuống sông Hóa Giang mà thề rằng “Trận này không phá xong giặc Nguyên thì quyết không trở về sông này nữa!”. Quân sĩ nô nức thề quyến chiến, và trận cọc trên sông Bạch Đằng năm 1288 đã toàn thắng, đánh đuổi quân Nguyên, giữ gìn giang sơn một cõi. Do đó tượng Đức ông thường được xây dựng hướng về phía sông biển cũng ngầm mang ý nghĩa trấn giữ bờ cõi nước nhà.
– Giả thuyết thứ hai: Trong kháng chiến chống quân Nguyên, vùng đất Thổ Khối (Thanh Hóa) xưa kia được nhà Trần chọn làm căn cứ phòng thủ và bàn đạp để tấn công ra phía Bắc. Đây là vùng đất ngã ba sông, nơi gặp gỡ của sông Hoạt, sông Tống và sông Long Khê – các nhánh sông chảy qua vùng Nga Sơn – Hà Trung rồi đổ ra biển. Đây là nơi có tuyến giao thông thủy rất thuận lợi. Phía Bắc nơi giáp ranh giữa Thanh Hóa và Ninh Bình lại có dãy núi đá Tam Điệp hùng vĩ án ngữ, tạo thành một bức tường thành tự nhiên vững chắc. Vì vậy Thổ Khối có lợi thế cả về công lẫn thủ, phù hợp cho giai đoạn chiến tranh. Trần Hưng Đạo có một con voi chiến dũng mãnh, đã được Dã Tượng thuần phục. Khi nó đến Thổ Khối, đoạn gần sông Hoạt thì bị sa lầy, càng vùng vẫy thì càng lún sâu. Sau cùng, vì quá nặng, voi ứa nước mắt nhìn chủ tướng lần cuối rồi chìm xuống bùn. Thương con voi đã từng vào sinh ra tử cùng mình, Trần Hưng Đạo rút thanh gươm chỉ xuống dòng sông Hoạt mà thề rằng “Trận này không phá xong giặc Nguyên thì quyết không trở về sông này nữa!”. Tướng sĩ đều cảm kích vô cùng trước hành động này của Đức Ông.
– Giả thuyết thứ ba: Cũng tương tự giả thuyết thứ hai, nhưng khác về địa điểm. Trong trận Bạch Đằng, khi Trần Hưng Đạo cưỡi voi vượt qua sông Hóa (Thái Bình), thì bị sa lầy. Quân lính tìm mọi cách để cứu voi lên nhưng không thành. Con voi quá nặng, bùn thì nhão, nước triều lại lên. Vì việc quân cấp bách nên đoàn quân phải tiếp tục lên đường. Dù không đành lòng với chiến hữu voi từng xông pha trận mạc với mình nhưng Trần Hưng Đạo buộc phải bỏ nó lại. Con voi ứa nước mắt nhìn chủ tướng rời đi. Trần Hưng Đạo thương tiếc chỉ xuống dòng sông Hóa mà thề rằng “Trận này không phá xong giặc Nguyên thì quyết không trở về sông này nữa!”. Người ta còn kể lại, về sau, đội quân thắng trận trở về thấy xác voi vẫn trong tư thế quỳ ở đó bèn lập đền thờ để tưởng nhớ. Người ta cũng còn kể câu chuyện Hưng Đạo Vương từng cưỡi trâu hành quân. Bởi vì sau khi không có voi, việc di chuyển khó khăn hơn. Lúc đó, có một cậu bé chăn trâu đã chạy đến, mời Trần Hưng Đạo cưỡi lên để cậu giong trâu bơi qua sông.
5. Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ
Dân gian có câu “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”. “Cha” ở đây là Đức Thánh Trần, “Mẹ” là thánh mẫu Liễu Hạnh. Cứ khoảng ngày 18 đến 20/8 âm lịch hàng năm, lễ húy kị Đức Thánh Trần được tổ chức ở Quy Nhơn, trong đó có nghi lễ cúng rước giác linh Đức Thánh Trần tại tượng đài ở Hải Minh vào sáng 19/8, sau đó cung nghinh về đền thờ để làm lễ cúng chính vào sáng 20/8.
Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1220-1300) mất ngày 20/8 năm Canh Tý. Ông là nhà quân sự thiên tài, ba lần cầm quân đánh đuổi giặc Mông – Nguyên (1258, 1285 và 1288), đặc biệt ở lần 2 (1285) và lần 3 (1288) được cử làm Quốc công Tiết chế, tức là Tổng chỉ huy trận chiến. Ông từng viết Hịch tướng sĩ, các sách Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Tương truyền, sau khi mất, ông hiển Thánh, được tôn vinh là Đức Thánh Trần và được thờ ở nhiều nơi.

Mẫu Liễu Hạnh là 1 trong tứ bất tử của văn hóa nước ta (Tứ bất tử gồm: Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử). Tương truyền, bà là công chúa Quỳnh Hoa, con của Ngọc Hoàng thượng đế trên trời. Có lần, vì lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên bà bị đày xuống trần gian và đầu thai vào nhà họ Lê ở xã Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, có tên là Giáng Tiên. Sau khi được trở về trời, bà lại xin xuống hạ giới để cứu giúp nhân dân. Bà mất ngày 3/3 Âm lịch, được sắc phong là Thượng đẳng tối linh Thần và được thờ ở phủ Giầy (Nam Định), phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng, đền Phố Cát (Thanh Hóa), đền Phủ Giầy (TP. Hồ Chí Minh)…
Từ tượng đài Trần Hưng Đạo nhìn về Quy Nhơn.
Từ tượng đài có rất nhiều góc chụp ấn tượng với background là Quy Nhơn xinh đẹp.
Ngoài ra, từ tượng đài Trần Hưng Đạo, bạn có thể dạo một vòng quanh làng chài Hải Minh, ngắm hải đăng Phước Mai – 1 trong 3 ngọn hải đăng ở Bình Định, tham quan một góc lũy cổ Phương Mai hoặc tắm biển ở Bãi Rạng hoang sơ.
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |





[…] Đọc thêm: Đến làng chài Hải Minh chiêm ngưỡng tượng đài Đức Thánh Trần […]