Cơ duyên đưa tui đến giếng cổ Gio An (Quảng Trị) rất tình cờ. Trong một lần mò mẫm trên Google maps để tìm đường đánh một vòng khu DMZ từ cầu Hiền Lương lên Hướng Hóa, con chuột máy tính xẹt qua địa điểm này. Thế là nó nhanh chóng được đưa vào “to do list” trong hành trình về Quảng Trị mùa hè năm 2025 của tui.
Giếng Đìa
Đường đến giếng cổ Gio An
Hệ thống giếng cổ ở xã Gio An, huyện Gio Linh trước đây, nay thuộc xã Cồn Tiên, tỉnh Quảng Trị. Đi theo đường DT75 chạy giữa bạt ngàn những vườn cao su và tảng đá bazan tròn trịa, to sụ nằm lăn lóc trên đồi, ven đường. Con đường nối giữa quốc lộ 1A và quốc lộ 15, chỉ chừng 7km từ QL1A là gặp hệ thống giếng này. Từ đây, bắt đầu men theo các nhánh đường làng (xe 4 chỗ đi được) là có thể đến gần giếng hơn.
Giếng Gai
Di sản từ nghìn năm
Ở Quảng Trị, trải dài trên các khu vực Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ (cũ) có gần 200 giếng cổ và công trình khai thác nước cổ với niên đại từ trăm năm đến cả nghìn năm, thậm chí là có tài liệu còn đề cập con số hơn 5000 năm. Riêng hệ thống giếng cổ Gio An hiện còn 14 giếng là giếng Pheo (thôn Tân Văn); giếng Máng (thôn Long Sơn); giếng Tép, giếng Ông, giếng Bà, giếng Gai (thôn Hảo Sơn); giếng Gái 1, giếng Gái 2, giếng Nậy (thôn An Hướng); giếng Đào, giếng Côi, giếng Dưới, giếng Búng, giếng Trạng (thôn An Nha). Năm 2001, hệ thống giếng cổ Gio An được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia. Phạm vi diện tích của 14 giếng cổ này là 3.74 ha, còn phạm vi lập quy hoạch di tích của cả hệ thống dẫn thủy cổ là hơn 5755 ha. Phần chênh lệch này c là vùng ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của hệ thống giếng cổ, vùng đệm bảo vệ mạch nước ngầm…
Giếng Bà
Địa hình ở khu vực này có nhiều đồi núi đất đỏ bazan và những tảng đá bazan mà người dân hay gọi là đá mồ côi với đủ mọi kích cỡ. Dưới chân đồi, khuất sau đám cây rậm rạp hay những lớp đá mồ côi xếp chồng lên nhau ẩn giấu mạch nước ngầm dày đặc. Ấy vậy mà không biết bằng cách nào, các cư dân Chăm sinh sống nơi đây từ ngàn năm trước đã tìm ra tài nguyên quý giá này. Dù gió Lào bỏng rát, dù nắng cháy thịt da thì nước của hệ thống giếng cổ vẫn trong ngần, mát lạnh và không hề khô cạn.
Giếng Ông.
Không chỉ khả năng tài tình trong việc tìm ra mạch nước ngầm mà cách người Chăm cổ xây dựng giếng cũng rất ấn tượng. Họ xếp đá, chỉnh dòng, dẫn thủy nhập điền để nước tưới tắm ruộng đồng. Đơn giản nhất là lèn đá quanh mạch nước, chỉ chừa một dòng phun ra. Công phu hơn thì xếp đá thành vách giếng, tạo bờ kè chống sạt lở; hoặc đặt máng nước bằng đá để điều khiển dòng chảy. Hoàn thiện hơn nữa là hệ thống khai thác nước liên hoàn với nhiều tầng lắng để gạn đục khơi trong, chia nhiều phân khu chức năng khác nhau rồi mới dẫn nước vào ruộng đồng. Đó là sự tài tình, khéo léo trong cách chế tác, sử dụng đá để điều khiển dòng nước theo ý muốn con người.
Con đường xếp đá dẫn thủy nhập điền.
Không biết nguồn gốc tên gọi các giếng xuất phát từ thời kỳ nào, nhưng rõ ràng nó là những cái tên thuần Việt, thường thì theo hình dạng của giếng (như giếng Máng), hoặc những dấu ấn liên quan đến tín ngưỡng (như giếng Ông có hình dạng Linga, hoặc giếng Bà có hình dạng Yoni)…
Giếng Máng
Mạch ngầm chảy giữa làng quê
Dòng nước ngầm từ các giếng cổ chảy vào ruộng đồng đã nuôi dưỡng một sản vật đặc biệt của vùng đất Gio An là rau liệt. Rau liệt còn gọi là rau cải xoong, xà lách xoong. Loại rau này chỉ có đoạn rễ ngắn bám vào cát, còn lại sinh trưởng hoàn toàn nhờ nước, không cần chút phân bón nào. Nó cũng không dễ chiều vì chỉ ưa nguồn nước sạch sẽ. Vì vậy nó chính là minh chứng cho dòng nước ngọt mát từ hệ thống dẫn thủy cổ ở đây. Mùa rau liệt thường bắt đầu vào tháng 10 và kết thúc vào tháng 3, 4 năm sau, tầm nửa tháng thu hoạch một lần. Rau liệt có thể chế biến thành nhiều món, ăn sống cũng được mà nấu chín cũng ngon: rau trộn, salad rau, rau liệt xào thịt bò, canh rau liệt nấu tôm…
Những ruộng rau liệt nằm ven dòng chảy.
Về với Gio An để chiêm ngưỡng mạch ngầm di sản chảy qua bao đời, nghe lời thì thầm từ ngàn xưa vọng đến hôm nay.
Góc nhỏ: Nhiều nghiên cứu cho thấy có 3 loại giếng Chăm phổ biến:
- 1- Giếng mở: thực chất bao gồm cả hệ thống khai thác nước ngầm làm thủy lợi theo kiểu “dẫn thủy nhập điền”. Hệ thống này được bố trí thành nhiều tầng từ cao đến thấp, mỗi tầng phục vụ mục đích khác nhau. Hoạt động theo nguyên tắc: nước tự dâng, tự chảy; nghĩa là nước ngầm tự dâng ở một bể chứa nằm trên cao, sau đó chảy vào các rãnh nước, bể nước thấp hơn.
- 2- Giếng nửa mở: còn gọi là giếng bộng, thường lấy từ nguồn nước ngầm dưới chân đồi hoặc ngoài đồng ruộng. Người ta thường đào sâu xuống lòng đất rồi lấy một tấm đá lớn có đục lỗ hoặc thân cây cổ thụ khoét rỗng ruột đặt lên trên mạch nước ngầm. Nước sẽ dâng lên và thoát ra từ lỗ trên. Quanh nơi mạch nước phun ra thường đặt thêm các tảng đá lớn, chèn kỹ để tránh sạt lở và nước cuốn trôi đất đi.
- 3- Giếng đóng: khá giống giếng khơi ở miền Bắc. Thành giếng thường xếp bằng gạch Chăm cổ như loại gạch xây đền tháp. Các lớp gạch được xếp không đồng nhất, thường thì cứ 2-3 lớp gạch xếp theo chiều ngang sẽ có 2-3 lớp xếp theo chiều dọc. Một số giếng có thành giếng được xếp đá như đá ong, đá núi lửa, đá phiến thạch… Hoặc kết hợp cả đá và gạch. Đáy giếng luôn có một bộ khung gỗ hình vuông cao khoảng 1.5 – 2 gang tay. Giếng thường có hình vuông, hoặc tròn, hoặc dưới vuông và trên tròn.
Đọc thêm: Giếng cổ Champa ở Gò Cỏ
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




