Lăng vua Minh Mạng có tên chữ là Hiếu Lăng, được xây dựng dưới đời vua Minh Mạng và con trai Ngài là vua Thiệu Trị. Công trình này nằm trong quần thể di tích cố đô Huế, đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa vật thể thế giới vào tháng 12/1993.
Vua Minh Mạng
Tháng 2/1820, vua Gia Long băng hà. Hoàng tử thứ 4 là Nguyễn Phúc Đảm (1791-1841) nối ngôi, lấy hiệu là Minh Mạng, trị vì trong giai đoạn 1820-1841. Ngài là con vua Gia Long và Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang. Sau khi qua đời, Ngài được truy tôn miếu hiệu Nguyễn Thánh Tổ. Nhà vua là vị vua đời thứ 2 của triều nhà Nguyễn, có tài thao lược, quyết đoán, đặc biệt nghiêm khắc trong việc chấn chỉnh triều cương, thi hành luật pháp, phòng chống tham nhũng. Dưới thời vua Minh Mạng, năm 1821 Quốc tử giám ở Huế được xây dựng và mở khoa thi Hương đầu tiên, đến năm sau tổ chức khoa thi Tiến sĩ đầu tiên của triều Nguyễn; chu kỳ thi cử cũng được điều chỉnh từ 6 năm xuống còn 3 năm một lần. Ngài còn có công lao rất lớn trong việc mở mang bờ cõi, đưa nước Đại Nam trở nên hùng mạnh trong các nước Đông Nam Á thời bấy giờ.
Bi Đình, bên trong có “Thánh đức thần công bi ký” ghi lại công lao của vua Minh Mạng.
Sinh thời, nhà vua có khoảng 43 phi tần, sinh được 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa.
Di chuyển đến lăng vua Minh Mạng
Lăng vua Minh Mạng cách trung tâm Huế khoảng 12km. Tùy cung đường bạn chọn mà có thể kết hợp tham quan một số điểm nổi tiếng và lăng mộ các vị vua khác như nhà thờ Phủ Cam – đàn Nam Giao – lăng vua Khải Định – lăng vua Minh Mạng, hoặc đàn Nam Giao – lăng vua Thiệu Trị – lăng vua Minh Mạng; xa hơn một chút là khu vực lăng vua Tự Đức, làng hương Thủy Xuân.
Giá vé (2026): Người lớn 150k. Người cao tuổi và một số đối tượng ưu tiên khác 75k. Trẻ em 30k, trẻ em dưới 7 tuổi miễn phí vé.
Thời gian tham quan: Mùa hè (từ 16/3 đến 15/10): 6h30 đến 18h30. Mùa đông (từ 16/10 đến 15/3 năm sau): 7h00 đến 18h00. Quầy vé ngừng bán vé trước 60 phút so với giờ đóng cửa tham quan.
Thêm một hoạt động đáng iu trong nỗ lực xây dựng du lịch xanh tại Huế.
Quá trình xây dựng lăng
Năm 1827, sau khi lên ngôi được 7 năm, vua Minh Mạng bắt đầu sai người đi tìm đất xây dựng sơn phần cho mình. Lúc này, quan địa lý Lê Văn Đức đã chọn được mảnh đất hợp phong thủy ở vùng núi Cẩm Kê (thuộc thôn La Khê, ấp An Bằng, huyện Hương Trà), gần ngã ba Bằng Lãng, nơi đầu nguồn hợp lưu của hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch thành con sông Hương. Nhà vua vẫn tiếp tục lựa chọn, cân nhắc, khảo sát địa thế và mãi đến 14 năm sau mới quyết định xây dựng lăng tẩm ở đây. Năm 1840, vua đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu Sơn, đặt tên lăng là Hiếu Lăng. Bản thiết kế sơ đồ lăng được Thượng thư bộ Công – Bùi Công Huyên, Thượng thư bộ Binh – Trương Đăng Quế và Giám thành vệ thực hiện; sau đó nhà vua đích thân xem xét, phê duyệt.
Tháng 4/1840 bắt đầu xây dựng. Các quan Lê Đăng Danh, Nguyễn Trung Mậu, Lý Văn Phức được giao nhiệm vụ giám sát 3000 binh lính, thợ thuyền đào hồ đắp tường bao xung quanh toàn bộ khuôn viên lăng – gọi là La thành. Tháng 8/1840 nhà vua đi kiểm tra thì thấy việc đào hồ Trừng Minh không ưng ý nên giáng chức các quan trông coi. Tháng 9/1840 bản thiết kế được điều chỉnh lại và tiếp tục xây dựng La thành.
Hồ Trừng Minh nhìn từ các góc khác nhau.
Tháng 1/1841 vua Minh Mạng đột ngột băng hà. Tháng 2/1841 vua Thiệu Trị nối ngôi; sai các quan đại thần Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên, Nguyễn Tri Phương tiếp tục thực hiện công việc dang dở theo đúng bản vẽ của vua cha. Lúc này có gần 10 nghìn binh lính và thợ cùng làm việc. Ngày 1/6/1841 hoàn thành việc tô vẽ Sùng Ân Điện, đến cuối tháng 6 tiếp tục hoàn thành các công trình khác. Ngày 20/8/1841 vua Minh Mạng được đưa vào an táng ở Bửu Thành. Tháng 12/1841 hoàn thành bia Thánh đức thần công trong Bi Đình. Thời gian sau tiếp tục các công việc còn lại như xây kè, lát gạch, trồng cây, tạo tiểu cảnh… Cuối năm 1843, Hiếu Lăng được hoàn thành.
Không gian bên ngoài lăng cũng rất mát mẻ.
Yếu tố phong thủy ở Hiếu lăng
Hiếu lăng được xây dựng trên một mảnh đất phong thủy rõ nét. Núi Hiếu Sơn (núi Cẩm Kê) nằm phía sau làm “hậu chẩm”, phía sau hơn nữa là núi Kim Phụng – núi chủ của Huế, cao 475m. Ngã ba sông Bằng Lãng án ngữ ở phía trước làm “minh đường”, xa hơn nữa là núi Phú Sơn (ở Hương Thuỷ) làm “tiền án”. Núi Ngọc Trấn nằm bên trái làm “tả thanh long”, núi Tôn Sơn mé bên phải làm “hữu bạch hổ”. Còn Hiếu Lăng đứng ở vị trí trung tâm của mảnh đất này. Toàn bộ công trình được xếp theo chiều dọc theo trục Càn – Tốn (Tây Bắc – Đông Nam).

Nếu nhìn từ trong ra, dòng suối từ núi Cẩm Kê phía sau chảy men theo bên trái, vòng lên phía trước Minh Lâu, đổ vào hồ Trừng Minh rồi chảy ra sông Hương. Dòng chảy kiểu này gọi là “Tả sa tác án chi huyền thuỷ” (nước chảy từ bên trái theo hình chữ chi tạo thành minh đường phía trước). Ngoài ra cách bố trí mỗi công trình ở Hiếu Lăng đều hàm chứa đậm nét những ý nghĩa của văn hóa phương Đông (mời bạn tiếp tục lướt xuống dưới để thấy rõ hơn).
Nước ở hồ Trừng Minh bên trong lăng sẽ chảy ra bên ngoài qua cống này, sau đó theo dòng đổ vào sông Hương.
Trên địa thế tựa sơn hướng thủy này, Hiếu lăng gồm 40 công trình lớn nhỏ khác nhau, rộng 23.6 ha. Từ trên cao nhìn xuống, Hiếu lăng giống một người đang nằm nghỉ, đầu gối lên núi Kim Phụng, hai cánh tay là hai nửa hồ Trừng Minh thả lỏng, chân duỗi ra ngã ba sông Hữu Trạch và Tả Trạch trước mặt.
Bảo tàng thi ca
Không chỉ gây ấn tượng bởi sự uy nghiêm, tính nghệ thuật và biểu tượng cao trong từng đường nét kiến trúc mà Hiếu lăng còn được xem như một bảo tàng thơ độc đáo của nền thi ca nước ta vào đầu thế kỷ 19. Có tổng cộng gần 500 ô chữ chạm khắc khoảng 120 bài thơ chữ Hán khác nhau, chủ yếu trang trí trên Bi Đình, Hiển Đức Môn, Sùng Ân Điện và Minh Lâu. Chính xác hơn, hiện nay còn 475 ô chữ, trong đó 463 ô vẫn còn thơ và 12 ô bị mất hoàn toàn. Ngoài ra trên các phế tích trong khuôn viên lăng có thể vẫn có văn thơ được chạm khắc nên con số ô thơ có thể còn lớn hơn. Các bài thơ này chủ yếu viết dưới dạng thất ngôn tứ tuyệt hoặc ngũ ngôn tứ tuyệt. Mỗi ô chữ trang trí theo kiểu “nhất thi nhất họa” nên thường chỉ có 1 hoặc 2 câu thơ chứ không đầy đủ toàn bài; cũng có bài thơ mỗi câu được chạm khắc ở một nơi khác nhau. Các nghiên cứu cho thấy các bài thơ còn tìm thấy ở đây đều được trích từ các tập Ngự chế thi của vua Minh Mạng.
Các bài thơ khắc trong Sùng Ân Điện
Thiên nhiên và kiến trúc giao hòa
Các công trình quan trọng ở đây được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên tâm lăng gọi là Thần đạo. Đường Thần đạo của Hiếu lăng dài 700m, bắt đầu từ Đại Hồng môn đến tận đoạn La thành phía sau mộ vua.
Trục Thần đạo đi thẳng từ trước ra sau.
Bao quanh các công trình là những ngọn đồi rợp bóng thông reo, là hồ Trừng Minh và hồ Tân Nguyệt nước chảy lững lờ, vừa thoáng đãng vừa hữu tình. Càng ra phía sau là càng gần đến chân núi, cây cối càng nhiều, không gian càng trở nên mát mẻ.
Hoằng Trạch Môn – điểm cuối của Sùng Ân Điện.
- Đọc thêm: Tiêu chí lựa chọn Di sản thế giới của UNESCO
- Giới thiệu các Di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO ghi danh – Phần 1: Di sản vật thể và di sản thiên nhiên
Máng nước trong các công trình ở hoàng thành Huế cũng là điểm kiến trúc thu hút.
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




