Ấn tượng kiến trúc ở lăng vua Minh Mạng – khi nghệ thuật và triết học Nho giáo cùng kể một câu chuyện

Lăng vua Minh Mạng tên chữ là Hiếu Lăng, được xây dựng từ năm 1840-1843 dưới đời vua Minh Mạng và con trai Ngài là vua Thiệu Trị. Vua Minh Mạng đề cao Nho giáo và Khổng Tử, nên sơn phần của Ngài chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết lý Nho gia. Mời bạn cùng tham quan Hiếu lăng từ ngoài vào trong để thấy được vẻ đẹp độc đáo của công trình này.

Mặt tiền lăng được án ngữ bởi một thảm cỏ rộng rãi và vườn cây cao lớn, tỏa bóng mát. Trên đó, đối diện với cổng chính vào lăng là một bức bình phong và đôi nghê đá canh giữ cổng.

Bình phong cách cổng 25m, ngăn chặn những luồng tà khí đi vào trong lăng.

Bức tường đối diện bức bình phong cũng chính là bức tường bao quanh khuôn viên lăng, có tên gọi La thành, dài 1750m, trải từ cổng chính Đại Hồng môn đến chân tường phía sau khu mộ vua. La thành được xây dựng kiên cố, đủ cao để bảo vệ các công trình bên trong nhưng không làm ảnh hưởng tầm nhìn từ trong lăng ra không gian thiên nhiên bên ngoài. Lối vào lăng chia ra thành 3 cổng, cổng chính Đại Hồng Môn nằm ở giữa, hai bên là Tả Hồng Môn bên trái và Hữu Hồng Môn bên phải (nhìn từ trong lăng ra). Đại Hồng Môn cao hơn 9m, rộng 12m; được xây bằng gạch, cửa gỗ, bên trên có 24 lá mái xếp cao thấp khác nhau và các họa tiết trang trí rồng, mây, cá chép…

Cánh cửa Đại Hồng Môn này chỉ mở một lần duy nhất để đưa quan tài của vua Minh Mạng vào lăng, sau đó được đóng kín vĩnh viễn.

Hiện nay, du khách vào tham quan lăng Minh Mạng đi bằng cổng phụ Tả Hồng Môn (nằm bên trái nếu nhìn từ trong lăng ra, hoặc bên phải nếu nhìn từ ngoài vào).

Bước qua Đại Hồng Môn là một khoảng sân vuông vức gọi là Bái Đình, rộng 42m x 44.8m, lát gạch Bát Tràng. Hai bên sân có 1 hàng tượng quan văn, quan võ, voi và ngựa đá đứng chầu, cuối sân có lân đồng đứng trong thiết đình. Đi hết Bái Đình sẽ đến Bi Đình – một lầu cao hình vuông kích thước 10m, nằm trên Phụng Thần Sơn, rộng 20m x 20m. Từ mặt đất tính lên Bi Đình cao hơn 9m, bên trong đặt tấm bia đá “Thánh đức thần công bi ký”, do vua Thiệu Trị dựng nên, ghi lại tiểu sử và công đức của vua cha Minh Mạng. Bia được làm bằng đá hoa cương nguyên khối, cao 2.96m, rộng 1m, dày 0.32m; dựng trên một bệ đá cao 1.09m, dài 2.33m, rộng 1.65m.

Sân Bái Đình và lầu Bi Đình.

  • Góc nhỏ: Ở lăng tẩm của các vị vua nhà Nguyễn đều có tấm bia gọi là “Thánh đức thần công bi ký” được đặt trong nhà bia, thường do đời vua sau lập nên để ghi chép lại công lao của vị vua trước. Trong lăng vua Gia Long, Thánh đức thần công bi ký dựng năm 1820, gồm 18 dòng, 781 chữ. Trong lăng vua Minh Mạng, bia dựng năm 1841, gồm 34 dòng, 2270 chữ. Trong lăng vua Thiệu Trị, bia dựng năm 1848, gồm 34 dòng, 1900 chữ. Trong lăng vua Tự Đức, bia dựng năm 1875, gọi là “Khiêm cung ký”, gồm 69 dòng, 4950 chữ, khắc 2 mặt. Chỉ riêng bia trong lăng vua Tự Đức có tên khác; nội dung không chỉ ca ngợi công đức của vua cha Thiệu Trị mà vua Tự Đức còn tự viết cho mình khi còn sống để tự luận công tội của bản thân. Trong lăng vua Đồng Khánh, bia dựng năm 1916, gồm 34 dòng, 900 chữ, khắc 2 mặt. Trong lăng vua Khải Định, bia dựng năm 1925, gồm 14 dòng, 950 chữ. Nguồn: Nguyễn Thừa Kế (2003), Bia và văn bia cung đình thời Nguyễn tại Huế – Một di sản quý cần được chú ý bảo tồn, Tạp chí Di sản văn hóa số 3.

Từ Bi Đình nhìn về khu tẩm điện.

Tiếp nối Bi Đình là khoảng sân triều lễ rộng lớn, giật cấp thành 4 bậc sân nhỏ hơn, cũng gần như hình vuông với mỗi cạnh 45m. Cuối sân này là Hiển Đức Môn, vừa là cổng tam quan vừa có lầu gác, mở lối dẫn vào khu vực tẩm điện.

Hiển Đức Môn

Tẩm điện nằm trong một vòng tường thành nhỏ hình vuông, tượng trưng cho mặt đất. Bức tường này có trổ cửa ra 4 phía. Chính giữa tẩm điện là Điện Sùng Ân, bên trong thờ bài vị của vua Minh Mạng và bà chính thất Tá Thiên Nhân Hoàng hậu.

Sùng Ân Điện. Bên trong điện và trên nóc điện có rất nhiều ô chữ khắc thơ.

Trong sân tẩm điện, đối xứng 2 bên trái phải là Tả Tùng Tự và Hữu Tùng Tự (nằm phía trước Sùng Ân Điện), Tả Tùng Viện và Hữu Tùng Viện (nằm phía sau điện) như những vệ tinh nằm xung quanh. Đi ra phía sau cùng, khép lại khu tẩm điện là Hoằng Trạch Môn, kiểu cửa vòm xây gạch với một lối đi duy nhất nên không quá lớn.

Hoằng Trạch Môn với 17 bậc thềm đá Thanh dẫn đến hồ Trừng Minh lững lờ nước chảy.

Qua khỏi Hoằng Trạch Môn, không gian trở nên mát lạnh bởi ngay trước mắt khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng. Thật ra, ngay từ khi bước vào La thành, hồ Trừng Minh đã xuất hiện ở cả hai bên của không gian lăng. Tuy nhiên, phải đến đây thì hai nửa hồ mới thông làm một. Bắc ngang qua hồ là 3 cây cầu dài khoảng 21m gồm cầu Trung Đạo ở giữa, Tả Phù (bên trái) và Hữu Bật (bên phải).

Trong hình từ trái qua: cầu Hữu Bật, cầu Trung Đạo

Cả ba cây cầu như những dải lụa mềm mại dẫn tới một ngọn đồi 3 tầng gọi là Tam Tài Sơn. Trên đó có lầu Minh Lâu, nơi nhà vua thường nghỉ ngơi hóng mát. Minh Lâu được thiết kế hình vuông, 2 tầng, 8 mái, là sự kết hợp kinh điển giữa các biểu tượng triết học phương Đông. Hình vuông tượng trưng cho Đất, 2 tầng thể hiện Âm – Dương lưỡng nghi, 8 mái liên quan đến Bát Quái.

Tòa nhà Minh Lâu thẳng hướng cầu Trung Đạo.

Phía sau Minh Lâu có 2 Hoa Biểu trụ nằm trên đồi Bình Sơn (phía tả của Minh Lâu) và đồi Thành Sơn (phía hữu). Hoa Biểu trụ thể hiện rằng nhà vua đã lập được công trạng, đem lại hòa bình thịnh vượng cho đất nước trước khi về cõi vĩnh hằng. Tiếp nữa là cầu Thông Minh Chính Trực bắc ngang hồ Tân Nguyệt, dẫn đến ngọn đồi tự nhiên Khải Trạch Sơn – nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà vua. Bao quanh đồi là Bửu Thành, một bức tường hình tròn xây bằng gạch, cao 3.5m, dài 273m, nằm ở vị trí cao nhất trên trục Thần đạo. Hình tròn của Bửu thành còn mang ý nghĩa nhà vua là mặt trời, là người có quyền lực cao nhất chi phối toàn bộ xã hội. Từ chân Khải Trạch Sơn đi lên 33 bậc tam cấp sẽ đến cổng của Bửu Thành. Phần mộ của nhà vua nằm ở tâm của Bửu Thành, bên dưới là Huyền cung (nơi đặt thi hài nhà vua) xây ngầm trong lòng đất. Nhìn từ triết lý văn hóa phương Đông, hồ Tân Nguyệt được tạo hình vầng trăng khuyết với 2 cánh cung ôm lấy Bửu Thành hình tròn. Hồ mang tính “Âm” với ý nghĩa bao bọc, che chở cho Bửu Thành mang tính “Dương” – biểu tượng của mặt trời.

Cầu Thông Minh Chính Trực bắc ngang hồ Tân Nguyệt, phía xa là Bửu Thành.

Ngoài ra còn các công trình phụ nằm rải rác trong khuôn viên lăng, trên các ngọn đồi, gồm Truy Tư Trai (nơi nhà vua đọc sách, nằm trên Phúc Am Sơn), Quan Lan Sở (nơi nhà vua ngắm cảnh, trên Đạo Thống Sơn), Linh Phương Các (nơi nghỉ ngơi của nhà vua và phi tần, trên Khải Thạch Sơn), Tuần Lộc Hiên (nơi nuôi loài nai, trên Đức Hóa Sơn), Tả Tùng Phòng (trên Tịnh Sơn), Hữu Tùng Phòng (trên Ý Sơn), Hư Hoài Tạ (nơi thư giãn, trên Trấn Thủy Đảo). Điểm đặc biệt là từ Minh lâu có thể nhìn thấy 7 ngọn đồi này gần như mô phỏng hình dáng chòm sao Bắc Đẩu. Tuy nhiên các công trình phụ này chỉ còn là phế tích.

Tính đối xứng độc đáo

Theo ngôn ngữ hiện đại, có thể nói Hiếu Lăng là một công trình mang tính OCD rõ nét về mặt hình học, bởi quần thể kiến trúc bên trong lăng gần như đối xứng tuyệt đối trên một trục dọc xuyên tâm lăng dài 700m từ Đại Hồng môn đến chân La thành phía sau mộ vua. Trục này gọi là đường Thần đạo, nằm theo hướng Đông – Tây, giống như một chữ Nhất (–) chia đôi toàn bộ công trình sang 2 bên. Trên trục Thần đạo bố trí các công trình quan trọng như Bửu Thành (nằm ở vị trí cao nhất của trục), Minh Lâu, Sùng Ân Điện, Hiển Đức môn, Bi đình và ngoài cùng là Đại Hồng môn. Các công trình phụ khác ở gần trục như Tả Tùng Tự, Hữu Tùng Tự, Tả Tùng Viện, Hữu Tùng Viện, Hoa Biểu trụ cũng được xây dựng đối xứng qua trục. Đi ra xa trục, qua khỏi các hồ nước, nằm về phía các quả đồi nhỏ, tính đối xứng chỉ giảm đi một ít không đáng kể. Chẳng hạn phía bên trái trục Thần đạo là Tả Hồng Môn, Truy Tư Trái, Quan Lan Sở, Linh Phương Các, Tả Tùng Phòng, Nghênh Lương Quán. Bên phải là Hữu Hồng Môn, Hư Hoài Tạ, Thần Khố, Hữu Tùng Phòng, Tuần Lộc Hiên, Điếu Ngư Đình. Đa phần nhóm các công trình này đã hư hại nặng, hầu như chỉ còn nền móng, trừ Nghênh Lương Quán và Điếu Ngư Đình.

Bên cạnh đó còn có tả hữu Hoa Biểu trụ. Nếu nối 2 trụ biểu này với nhau thành một đường thẳng thì có thể xác định trục không gian trung tâm của lăng theo hướng Bắc – Nam. Theo đó, Bửu Thành (nơi an táng thể xác) đối xứng với Sùng Ân Điện (nơi cư ngụ linh hồn). Cụ thể, Bửu Thành môn đối xứng với vị trí trung tâm của Sùng Ân Điện, vị trí trung tâm của Bửu Thành đối xứng với Hiển Đức Môn. Sự cân bằng âm dương này là một chủ đích đậm tính Nho giáo mà vua Minh Mạng đã đặt ra.

-Việt An-

Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *