Đại nội Kinh thành Huế là một trong các kiến trúc thuộc Quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa vật thể thế giới vào năm 1993. Kinh thành Huế được vua Gia Long khảo sát vào năm 1803, sau đó tiến hành xây dựng và đến thời vua Minh Mạng mới hoàn thành. Công trình gồm 3 vòng thành, theo thứ tự từ ngoài vào trong lần lượt là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành. Vòng ngoài cùng là Kinh thành được xây từ năm 1805 đến 1832; có 13 cửa ra vào, gồm 11 cửa đường bộ và 2 cửa đường thủy. Hoàng thành xây dựng trong giai đoạn 1804-1833, có 4 cửa ra vào. Tử Cấm thành có 7 cửa ra vào.
Năm 1833, vua Minh Mạng đã hoàn thành toàn bộ hệ thống cung điện trong kinh thành với khoảng 147 công trình. Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ hình vuông, mỗi cạnh khoảng 600m. Tường bao xung quanh thành cao 4m, dày 1m, làm bằng gạch và có hào nước bảo vệ xung quanh dựa 1 phần nguyên lý của kiến trúc Vauban. Lối vào bên trong Hoàng thành có 4 cửa. Bài viết này chỉ tập trung vào 4 cửa kể trên, danh sách cửa được liệt kê theo chiều kim đồng hồ.
- Đọc thêm: Tiêu chí lựa chọn Di sản thế giới của UNESCO
- Giới thiệu các Di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO ghi danh – Phần 1: Di sản văn hóa vật thể
- Giới thiệu các Di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO ghi danh – Phần 2: Di sản văn hóa phi vật thể
- Giới thiệu các Di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO ghi danh – Phần 3: Di sản thiên nhiên
1. Ngọ Môn
Ngọ Môn từ lâu đã trở thành một biểu tượng của kiến trúc cung đình Huế, gắn liền với hình ảnh đất cố đô. Nó nằm ở phía Nam kinh thành, là cửa lớn nhất và cũng là cửa chính để vào Hoàng thành Huế. Theo Kinh dịch, vua luôn ngồi hướng mặt về phía Nam để trị vì thiên hạ. Do đó, toàn bộ Kinh thành, Đại nội đều được xây dựng theo nguyên tắc “tọa Càn hướng Tốn” (trục Tây Bắc – Đông Nam). Trên la bàn phong thủy Phương Đông, phía Nam thuộc hướng “Ngọ” trên trục “Tí – Ngọ” (Bắc – Nam), vì vậy cửa này mang tên là “Ngọ Môn”. Mặc dù là cửa chính nhưng nó không được sử dụng nhiều, vì thường chỉ mở vào các dịp quan trọng như khi nhà vua ra vào Hoàng thành có đoàn ngự giá, hoặc lúc đón tiếp sứ thần ngoại quốc quan trọng… Đây không chỉ là cổng ra vào Hoàng thành mà còn là một lễ đài hướng ra khu vực quảng trường rộng lớn trước mặt, phía sau Kỳ đài. Quảng trường là nơi diễn ra các lễ lớn của triều đình như lễ Truyền lô (xướng danh các sĩ tử thi đỗ Tiến sĩ), lễ Ban sóc (phát lịch), duyệt binh… Chiều 30/8/1945, lễ thoái vị của vua Bảo Đại được tổ chức tại đây.

Dưới thời vua Gia Long, tại vị trí này có Nam Khuyết đài, trên đài có điện Càn Nguyên, 2 bên có 2 cửa là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn. Đến thời vua Minh Mạng các kiến trúc này bị hạ giải để xây Ngọ Môn vào năm 1833. Công trình gồm 2 phần chính: phần nền đài bên dưới và lầu Ngũ Phụng bên trên. Nền đài có hình chữ U vuông góc, lòng hướng ra ngoài Hoàng thành, xây bằng gạch vồ và đá thanh kết hợp với đồng. Thân đài có 5 lối đi, gồm 3 cửa ở giữa (phần lòng chữ U) và 2 cửa ở 2 bên (phần cánh chữ U). Ngọ Môn ở chính giữa là lối đi dành cho vua; bên cạnh là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, thấp hơn Ngọ Môn, dành cho các quán văn võ đi trong đoàn ngự đạo. Các cửa này có hình chữ nhật hướng thẳng ra phía Nam, song song với trục dũng đạo; xây bằng đá. Hai bên đài có Tả Dực Môn và Hữu Dực Môn dành cho quân lính và voi ngựa theo hầu. Hai cửa này chạy xuyên qua lòng đài, cửa ra vuông góc với trục dũng đạo; thiết kế dạng vòm. Phía sau cửa, bên trong Hoàng thành là cầu thang lộ thiên 2 bên để đi lên trên nền đài, lan can trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng tráng men ngũ sắc.
Các kiến trúc gỗ trong lầu Ngũ Phụng được sơn son thếp vàng, thể hiện sự uy nghi của hoàng gia.
Lầu Ngũ Phụng nằm phía trên nền đài, cũng có hình chữ U để tương ứng với kết cấu nền đài bên dưới. Được dựng trên nền cao 1.14m, gồm 2 tầng lầu, kết cấu bằng 100 cột gỗ lim. Lầu có 2 tầng mái. Hệ thống mái tầng dưới chạy bao quanh lầu. Hệ thống mái tầng trên được chia làm 9 bộ mái, trong đó bộ mái ở giữa cao hơn 8 mái còn lại. Bộ mái giữa ở tầng trên và phần mái tương ứng ở tầng mái dưới được lợp ngói lưu ly vàng – là nơi vua ngự. Các phần mái còn lại lợp ngói lưu ly xanh. Bờ nóc, bờ quyết, hồi mái được trang trí bằng những hoa văn tinh xảo. Phần lầu giữa – nơi lợp ngói lưu ly vàng – có lắp hệ thống cửa gỗ kính phía trước, các mặt còn lại làm vách gỗ.
Vì là cửa dành cho nhà vua nên hiện nay cửa Ngọ Môn (vị trí số 1) đóng hoàn toàn. Các cửa Tả Giáp Môn (số 3) và Hữu Giáp Môn (số 2) cũng thường đóng. Khách du lịch vào tham quan chủ yếu đi bằng 2 cửa hông là Tả Dực Môn (số 4) và Hữu Dực Môn ở phía đối diện.
2. Cửa Chương Đức

Cửa Chương Đức nằm ở phía Tây, bên phải Hoàng thành; dành cho các bà trong cung ra vào, theo đúng nguyên tắc “Nam tả nữ hữu”. Bên cạnh là Tây Khuyết đài có chức năng phòng thủ bảo vệ Đại nội. Cửa Chương Đức có 3 tầng, mái lợp ngói lưu ly vàng, đầu ngói chìm bên dưới khắc nổi đầu con dơi mang ý nghĩa “Phúc Thọ Khang Ninh”.

Hiện nay cửa Chương Đức thông ra đường Lê Huân, xung quanh là cây cối mát rượi. Đây cũng là lối ra sau khi khách tham quan xong Hoàng thành.
3. Cửa Hòa Bình
Cửa Hòa Bình nằm ở phía Bắc, dành cho nhà vua đi dã ngoại. Năm 1805 dưới thời vua Gia Long, cửa được xây dựng với tên gọi là cửa Củng Thần, thiết kế kiểu tam quan – môn lầu. Dưới thời vua Minh Mạng, năm 1821 đổi tên là cửa Địa Bình; Năm 1833 đổi thành cửa Hòa Bình; Năm 1839 hạ bớt phần lầu phía trên. Năm 1894 dưới thời vua Thành Thái cửa được trùng tu. Cửa này còn gọi là “Cửa sau” vì nằm ở mặt sau của Hoàng thành. Bên cạnh cửa Hòa Bình là lầu Tứ phương vô sự, hiện sử dụng làm quán cà phê.
- Đọc thêm: Lầu Tứ phương vô sự ở Huế

Cửa Hòa Bình xây bằng gạch, thiết kế dạng tam quan với 1 tầng, có vì nóc và mái lợp ngói. Ngày xưa, từ cửa băng qua hồ Nội Kim Thủy đến trước cửa Tường Loan của Tử Cấm thành còn có cầu Kim Thủy xây theo kiểu thượng gia hạ kiều, sau này phần mái ngói bị bỏ đi. Phía sau cửa Tường Loan chính là điện Kiến Trung – nơi làm việc và sinh hoạt của 2 vị vua cuối cùng triều Nguyễn là vua Khải Định và vua Bảo Đại.
Từ bậc tam cấp của lầu Tứ phương vô sự nhìn về hồ Nội Kim Thủy, xa xa là cửa Tường Loan.
Hiện nay cửa Hòa Bình thông ra đường Đặng Thái Thân. Ra khỏi cửa Hòa Bình đi về bên phải, gần góc giao của đường Đặng Thái Thân và Đoàn Thị Điểm là một ngôi nhà nhỏ mang tên Bình An Đường, nơi điều dưỡng của các cung phi, thị nữ, thái giám khi đau yếu.
4. Cửa Hiển Nhơn
Cửa Hiển Nhơn nằm ở phía Đông, dành cho quan lại và nam nhân. Được xây dựng năm 1805 dưới thời vua Gia Long. Năm 1833 dưới thời vua Minh Mạng được gia công trang trí khảm sành sứ. Thời vua Khải Định cửa tiếp tục được trùng tu. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, cửa bị phá hủy hoàn toàn. Tương tự cửa Chương Đức, cửa Hiển Nhơn thiết kế theo lối tam quan đặc trưng của kiến trúc cung đình nhà Nguyễn. Gồm 3 tầng, mái lợp ngói lưu ly. Trên thân cửa đắp nổi và khảm sành sứ hình rồng phượng, hoa lá, chữ viết… rất tinh xảo. Bên cạnh cửa Hiển Nhơn cũng có vọng gác gọi là Đông khuyết đài.
Hiện nay cửa Hiển Nhơn thông ra đường Đoàn Thị Điểm. Đây cũng là lối từ Hoàng thành ra bên ngoài dành cho du khách.
Đọc thêm về các địa điểm khác được công nhận là di sản văn hóa thế giới thuộc quần thể di tích cố đô Huế:
- Lăng vua Tự Đức – một chiều Huế trong veo
- Lăng vua Minh Mạng – điểm đến hữu tình xứ cố đô
- Hổ Quyền – Đấu trường sinh tử đất cố đô
- Điện Voi Ré – nơi tôn vinh loài voi ở Huế
- Chiêm ngưỡng các cổng vào kinh thành Huế
- Tây thành Thủy quan – con đường thủy vào kinh thành Huế
- Đông thành Thủy quan – cửa ngõ thơ mộng của kinh thành Huế
- Độc đáo kiến trúc các cửa vào Đại nội kinh thành Huế
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




