Về thăm trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời tại miền đất lửa Quảng Trị

Trên trục quốc lộ 9 từ Đông Hà lên Hướng Hóa, có một địa chỉ đỏ rất đặc biệt. Dù thời gian tồn tại chỉ 2 năm nhưng đây từng là cơ quan đầu não của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đó chính là Trụ sở chính phủ, đặt tại Cam Lộ, Quảng Trị. Ngày 25/1/1991 địa điểm này được xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Địa chỉ: Đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, ngay góc đường Cần Vương – Nguyễn Hữu Thọ. Cách Đông Hà 14km; cách quốc lộ 9 chỉ khoảng 420m.

Nhà làm việc của Chính phủ.

Bối cảnh ra đời trụ sở

Trong chiến dịch Xuân – Hè 1972, trên mặt trận Quảng Trị có nhiều sự kiện quan trọng đã diễn ra. Chỉ trong vòng hơn 1 tháng, từ ngày 30/3 đến 2/5/1972, ta thực hiện Chiến dịch tấn công Trị – Thiên và giải phóng tỉnh Quảng Trị vào ngày 1/5/1972. Từ ngày 28/6 – 16/9/1972 diễn ra cuộc giằng co đỏ lửa bảo vệ thành cổ Quảng Trị suốt 81 ngày đêm. CÙng với đó là những thắng lợi giòn giã từ chiến trường miền Nam, rồi trận Điện Biên Phủ trên không” bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và 1 số tỉnh phía Bắc trong 12 ngày đêm từ ngày 18 – 29/12/1972. Đây là những đòn quyết định góp phần đánh bại cơ bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris vào ngày 27/1/1973.

  • Góc nhỏ: Hội nghị Paris về hòa bình của Việt Nam kéo dài từngày 13/5/1968 đến ngày 27/1/1973. Trải qua 4 năm, 8 tháng, 14 ngày; tổng cộng 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1000 cuộc phỏng vấn và hàng nghìn cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam. Có 2 đời Tổng thống Mỹ là Lyndon B. Johnson và Richard Nixon trong thời gian diễn ra hội nghị. Chương trình gồm 2 hội nghị kế tiếp nhau: (1) Hội nghị 2 bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ từ 13/5/1968 đến 1/11/1968; (2) Hội nghị 4 bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn từ 25/1/1969 đến 27/1/1973. Mỹ liên tục thay thế các trưởng đoàn đàm phán (William Averell Harriman trong đàm phán 2 bên, Henry Cabot Lodge trong đàm phán 4 bên 1969, David Bruce, Henry Kissinger, William P. Rogers) với cố vấn đặc biệt là Henry Kissinger. Trong khi đó, suốt quá trình đàm phán, 2 trưởng phái đoàn của ta là Bộ trưởng Xuân Thủy (trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và bà Nguyễn Thị Bình (trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Ngoài ra còn có cố vấn đặc biệt – nhà ngoại giao lão luyện Lê Đức Thọ.

Bên phải Nhà làm việc Chính phủ, ngay giữa sân di tích là tấm bia đá với lời đề từ của bà Nguyễn Thị Bình – Nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao của Chính phủ lâm thời vào thời điểm đó. Đây cũng là nơi bà từng làm việc trong giai đoạn 1973-1975. Madame Bình là một nhà đàm phán xuất sắc trong Hội nghị Paris về vấn đề hòa bình tại Việt Nam 1973.

Lúc này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thành lập được 4 năm, từ ngày 6/6/1969. Chính phủ lâm thời quyết định lựa chọn Cam Lộ trên đất Quảng Trị để đặt trụ sở làm việc. Có nhiều lý do để vùng đất này trở thành nơi đặt cơ quan quan trọng nhất của Chính phủ. Đây là tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng; nằm sát hậu phương lớn miền Bắc – có thể hỗ trợ một cách nhanh chóng và thuận tiện; có hệ thống giao thông đường thủy lẫn đường bộ, gần quốc lộ 9 và quốc lộ 1. Những ưu điểm này giúp Cam Lộ trở thành nơi phù hợp để Chính phủ lâm thời thực hiện các hoạt động lãnh đạo một cách thuận lợi.

  • Góc nhỏ:Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập vào ngày 6/6/1969, tại vùng căn cứ Bắc Tây Ninh. Chủ tịch Chính phủ là Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Bộ máy Chính phủ gồm 8 bộ trưởng, 12 thứ trưởng. Hội đồng cố vấn Chính phủ gồm 13 người, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch.

Ngay giữa sân là cột cờ với lá cờ 2 màu của Chính phủ lâm thời.

Xây dựng cấp tốc

Sau khi đưa ra quyết định chọn Cam Lộ, trụ sở mới được xác định sẽ xây trên nền thành Vĩnh Ninh, thuộc thôn Tây Hòa, xã Cam Mỹ (cũ). Năm 1973, những chiếc tàu chở vật liệu xây dựng từ miền Bắc đi vào Quảng Trị và cập cảng Đông Hà. Công trình được yêu cầu phải thi công theo kiểu gọn nhẹ, nhanh chóng nên vật liệu xây dựng chủ yếu là xi măng, khung sườn bằng sắt, tôn, ván. Nguồn nhân lực được huy động từ Công ty Xây dựng số 8 tỉnh Nghệ An với hơn 500 người làm việc liên tục suốt ngày đêm. Khởi công ngày 6/5/1973 và đến ngày 30/5/1973 thì hoàn thành sau 25 ngày làm việc khẩn trương. Ngày 6/6/1973, trụ sở chính thức đi vào hoạt động, đúng vào ngày kỷ niệm năm thứ 4 ra đời Chính phủ lâm thời.

  • Góc nhỏ: Năm 1829, đời vua Minh Mạng thứ 9 cho xây dựng thành Vĩnh Ninh – Lỵ Sở; đây là thủ phủ của đạo Cam Lộ, dùng để trấn giữa vùng biên ải phía tây của dinh Quảng Trị, nơi giáp với đất Ai Lao. Đơn vị hành chính đạo Cam Lộ chỉ tồn tại 30 năm. Đến năm 1831, đời Minh Mạng thứ 12, đạo Cam Lộ đổi thành phủ Cam Lộ; sau này còn nhiều lần biến động thành các đơn vị hành chính khác.

Hiện nay mới chỉ có một số công trình được phục dựng, gồm: Nhà làm việc của Chính phủ (số 2), Nhà làm việc của Bộ Ngoại giao (số 3), Bia đá (số 4), Nhà khách ở khu B (số 5). Còn số 1 là văn phòng Ban quản lý khu di tích.

Toàn bộ công trình trải rộng trên diện tích hơn 17.000m2, được chia làm 2 khu độc lập là khu A và khu B. Trung tâm của trụ sở, từ cổng nhìn vào là Khu A,  gồm 3 dãy nhà: ngay chính giữa là khu làm việc dành riêng cho Chính phủ; bên trái là nhà làm việc của Bộ ngoại giao, phía sau là nhà ăn dành riêng cho khu A. Nhà làm việc của Chính phủ gồm 3 gian, gian chính giữa và bên phải là khu vực làm việc và tiếp các đại sứ, nền nhà được lót thảm, bộ bàn ghế mây khung sắt – nơi từng diễn ra nhiều cuộc trao đổi giữa các bên – được trưng bày ở gian bên phải.

Gian chính giữa có dành một khu vực trang trọng để đặt lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN, 2 bên là tranh ảnh đại sứ các nước đến trình quốc thư.

Gian còn lại bên trái dành riêng cho Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nguyễn Hữu Thọ. Ở đây có phòng làm việc, bên trong có vách ngăn thành hai gian nhỏ, một bên đặt chiếc giường đơn làm nơi nghỉ ngơi của Chủ tịch.

Đây là gian làm việc và nghỉ ngơi của Chủ tịch Chính phủ Nguyễn Hữu Thọ.

Khuôn viên bên phải là khu B với 5 dãy nhà khách, gồm 2 dãy nhà dành riêng cho các đại sứ lưu trú và 3 dãy nhà dành cho những thành viên đi theo đoàn của các đại sứ, phóng viên báo chí, thành viên của Chính phủ lâm thời. Tất cả đều là nhà cấp 4, lợp tôn, trần đóng la phông, vách bằng ván mỏng.

Bia đánh dấu Nhà ăn của thành viên Chính phủ, công trình này thuộc khu A.

Sau năm 1975, công trình này bàn giao cho địa phương quản lý. Đến tháng 10/1985, toàn bộ công trình đã bị hư hỏng hoàn toàn sau cơn bão Cecil. Đây là cơn bão cấp 12, được xem là mạnh nhất trong vòng 100 năm đổ bộ vào Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế. Đối mặt với trận bão kinh khủng, lại thêm vật liệu xây dựng đều nhẹ và đơn giản nên công trình không thể trụ vững. Đến năm 2007 mới tiến hành phục dựng một số công trình với kết cấu mô phỏng 100% nguyên bản, gồm: Nhà làm việc Chính phủ và nhà làm việc Bộ Ngoại giao của khu A, một dãy nhà nghỉ của các Đại sứ gồm 6 phòng của khu B; xây nền móng và đặt bia ghi dấu của các dãy nhà còn lại; xây dựng nhà bia di tích; nhà trưng bày và các công trình phụ trợ…

Rất nhiều hình ảnh về các cuộc làm việc hiện đang được trưng bày trong các phòng của khu di tích.

Khuôn viên khu trụ sở trồng khá nhiều dừa để nhắc nhớ về miền Nam ruột thịt. Trong sân cũng rợp bóng cây nhãn, tuy quả nhỏ nhưng ngọt lịm. Ngay cổng vào bên tay phải là Văn phòng của khu di tích, cạnh đó có nhà trưng bày một số hình ảnh và hiện vật liên quan đến trụ sở Chính phủ lâm thời trước đây.

Chiếc xe Volga được phục chế là chiếc được dùng để đưa đón lãnh đạo của Chính phủ lâm thời. Dãy nhà màu trắng phía sau là nhà làm việc của Bộ Ngoại giao.

Những hoạt động sôi nổi của Chính phủ lâm thời

Chỉ trong 2 năm 1973-1975, nơi đây đã diễn ra nhiều hoạt động quan trọng như: Đón tiếp 49 đoàn khách quốc tế, đại sứ các nước đến trình quốc thư đặt quan hệ ngoại giao; các đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc… Có đến hơn 40 nước đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ lâm thời trong khoảng thời gian này. Đặc biệt, tháng 9/1973, giữa khói lửa chiến tranh, lãnh tụ Fidel Castro của Cuba, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Goerges Marchais đã đến thăm nơi đây. Lực lượng cán bộ thường trực ở đây khoảng 30-40 người, tuy đơn giản hóa do tính chất lâm thời nhưng vẫn là một Chính phủ thu nhỏ với đầy đủ các ban bệ. Sau năm 1975, Chính phủ lâm thời kết thúc sứ mạng lịch sử đặc biệt của mình.

Phòng làm việc của Chính phủ. Trên bộ bàn ghế mây đơn sơ này đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ quan trọng của Chính phủ và các đoàn khách quốc tế.

Góc nhỏ: Quảng Trị từng 3 lần được chọn làm “thủ đô lâm thời”. Ngoài năm 1973 thì còn có 2 lần sau:

  • Năm 1558, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã chọn Ái Tử (Triệu Phong, Quảng Trị cũ) làm điểm dừng chân và cho xây nhiều dinh thành.
  • Sau biến cố kinh thành Huế năm 1885, vua Hàm Nghi rút về đây và đã chọn vùng Cùa (Cam Lộ) để xây thành Tân Sở làm nơi đóng đô của vương triều kháng chiến. Ngày 13/7/1885 vua ban chiếu Cần Vương hiệu triệu nhân dân cả nước đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.

-Việt An-

Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *