Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến năm 2025, nước ta có 16 tôn giáo được Nhà nước chính thức công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động tại Việt Nam, 43 tổ chức, hơn 29 nghìn cơ sở thờ tự cùng khoảng 28 triệu tín đồ. Trong đó có 9 tôn giáo du nhập từ nước ngoài gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Bà la môn, Cơ đốc Phục Lâm, Minh Sư đạo (Phật đường Nam tông), Baha’i, Mặc Môn (Các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giesu Kito). Có 7 tôn giáo nội sinh trong nước, gồm: Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài (Đại đạo Tam kỳ phổ độ), Tịnh độ cư sĩ Phật hội, Tứ ân hiếu nghĩa, đạo Bửu Sơn kỳ hương, Phật giáo hiếu nghĩa Tà Lơn, Minh Lý đạo.
Danh sách thứ tự các tôn giáo bên dưới được xếp theo thứ tự giảm dần về số lượng tín đồ. Ngoài ra, logo, hoặc biểu tượng, hoặc hình ảnh đại diện của các tôn giáo có trong ảnh bìa bài viết và cũng xếp theo thứ tự này.
1. Phật giáo.
Ở nước ta Phật giáo có số lượng tín đồ đông nhất. Phật giáo du nhập vào nước ta từ những năm đầu công nguyên. Người sáng lập ra đạo Phật là Đức Phật Thích ca Mâu ni. Tháng 11/1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 9 hệ phái, tổ chức gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Ban Liên lạc Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Thiên Thai giáo Quán tông, Hội Phật học Nam Việt.
2. Công giáo.
Công giáo được cho là truyền vào Việt Nam từ năm 1533, dưới thời vua Lê Trang Tông, bắt đầu từ giáo sĩ I-Nê-Khu. Vị thừa sai này đến truyền giáo ở làng Ninh Cường và Quần Anh (huyện Nam Chân), làng Trà Lũ (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cũ), thuộc giáo phận Bùi Chu. Giáo hội công giáo Việt Nam được thành lập vào năm 1980. Người sáng lập ra Công giáo là Đức chúa Giesu.
3. Phật giáo Hòa Hảo.
Tôn giáo này do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập ngày 18/5/1939 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang). Ông được tín đồ suy tôn là Đức Huỳnh giáo chủ. Phật giáo Hòa Hảo cũng thờ Phật nhưng không thờ tượng cốt, tranh ảnh. Ngoài ra, tôn giáo này còn thờ ông bà tổ tiên, các anh hùng dân tộc và những người có công với cộng đồng. Biểu tượng của đạo Hòa Hảo là tấm vải màu nâu già với quan niệm Phật tại tâm, tâm tức Phật. Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo được Nhà nước công nhận năm 1999.
4. Đạo Cao đài.
Đạo Cao đài (Đại đạo Tam kỳ phổ độ) là tôn giáo nội sinh, ra đời năm 1926. Vị thần tối cao của đạo này là Đức chí tôn (Ngọc hoàng thượng đế), biểu tượng qua Thiên nhãn – nghĩa là “mắt trời”.
5. Đạo Tin lành.
Cùng là một nhánh của Kito giáo nên đạo Tin lành và đạo Công giáo có nhiều nét tương đồng với nhau. Được truyền vào nước ta khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 bởi tổ chức Liên hiệp Phúc âm Truyền giáo Hoa Kỳ (CMA). Cơ sở truyền giáo đầu tiên của đạo Tin lành đặt tại Đà Nẵng, năm 1911.
6. Tịnh độ cư sĩ Phật hội.
Tôn giáo này do ông Nguyễn Văn Bồng (1886-1958) sáng lập năm 1934. Tôn giáo này lấy giáo lý đạo Phật làm gốc, phương châm hành đạo là “Tu học, Hành thiện, Ích nước, Lợi dân”, tôn chỉ là “Phước – Huệ song tu”. Trong đó, Tu Phước nhằm phát triển y học cổ truyền trên nền tảng giáo lý nhà Phật; Tu Huệ là học Kinh – Luật – Luận của Phật giáo để nâng cao trí tuệ để đạt tới giải thoát, an vui. Thông qua Tu Huệ để giác ngộ trong việc Tu Phước, thúc đẩy lẫn nhau để xây dựng xã hội đoàn kết, thân ái, cùng phát triển. Được nhà nước công nhận vào năm 2007.
7. Hồi giáo.
Hồi giáo được truyền vào nước ta khoảng thế kỷ 10, tuy nhiên đã có sự giao thoa với bản sắc văn hóa của người Chăm. Tôn giáo này thờ Thượng đế Allah, kinh sách là Thiên kinh Côran và sử dụng ngôn ngữ Ả Rập.
8. Bà La Môn.
Đây vốn là tôn giáo của Ấn Độ, sau đó du nhập vào cộng đồng dân tộc Chăm và dung hòa với văn hóa bản địa để hình thành một tôn giáo riêng là Bà-la-môn của người Chăm
9. Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.
Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do ông Ngô Lợi (1831-1890) sáng lập năm 1867 tại Cù lao Ba, tỉnh An Giang. Khi mới ra đời, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được ông Ngô Lợi gọi là đạo “Thờ ông bà”. Từ năm 1870 trở đi, gọi là “Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa” và từ năm 2020 là “Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa”. Được nhà nước công nhận năm 2010.
10. Cơ Đốc Phục Lâm.
Tôn giáo này do Liên hiệp hội Cơ đốc Phục lâm Ngày thứ Bảy Hoa Nam tại Hồng Kông truyền vào Việt Nam, xây dựng cơ sở đầu tiên năm 1929. Họ thờ Ba ngôi Đức Chúa trời. Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam được Nhà nước Việt Nam công nhận năm 2008.
11. Bửu Sơn Kỳ Hương.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên (1807-1856) sáng lập năm 1849, tại Cốc ông Đạo Kiến, nay là chùa Tây An, tỉnh An Giang. Ông Huyên vì thế còn được gọi là Phật thầy Tây An (Giáo chủ của Phật giáo Hòa Hảo và Phật giáo Tứ ân hiếu nghĩa đều là đệ tử của Giáo chủ Đoàn Minh Huyên). Biểu tượng của đạo này là tấm trần điều màu nâu già. Giáo lý là “Tu nhân – học Phật” và thực hành việc báo đáp tứ đại trọng ân. Tứ ân thuở ban đầu bao gồm “Ân trời phật, ân quân vương, ân cha mẹ, ân sư phụ”; sau này được hiểu là ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào. Giới luật của đạo này là “Tam quy, ngũ giới”. Tam quy nghĩa là quy y Phật, Pháp, Tăng. Ngũ giới gồm: (1) cấm sát sinh; (2) cấm tà dâm; (3) cấm tham lam; (4) cấm rượu chè, cờ bạc, hút sách, bói toán, mê tín dị đoan; (5) cấm ác khẩu, gian dối, vọng ngữ, châm chọc gây chia rẽ.
12. Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh Sư Đạo.
Minh Sư đạo có nguồn gốc từ Trung Quốc vào khoảng thời kỳ nhà Đường, được truyền vào Việt Nam từ đời vua Tự Đức (1848-1883). Trưởng lão Đông Sơ là người đầu tiên truyền đạo vào nước ta và lập chùa Quảng Tế Phật đường ở Hà Tiên (Kiên Giang). Trong Minh Sư đạo, Minh có nghĩa là sáng, thông hiểu đến sáng suốt; Sư là người tu đạt tới giải thoát, trở thành thầy; Minh Sư là người tu đạt tới sự thông hiểu, sáng suốt, giải thoát để trở thành bậc thầy. Được nhà nước công nhận năm 2008.
13. Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.
Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn do ông Nguyễn Ngọc An sáng lập năm 1915 tại Kiên Giang. Mục đích hành đạo: “An bình – Bác ái -Từ tâm – Học phật – Tu nhân – Báo đáp tứ ân”; tôn chỉ hoạt động: “Phật pháp – Đạo pháp – Hiếu nghĩa – Dân tộc”. Được nhà nước công nhận năm 2016.
14. Baha’i.
Tôn giáo Baha’i do Mirza Husayn Ali (1817 – 1892) sáng lập năm 1863 tại Iran. Ông còn được tín đồ suy tôn là Baha’u’llah, nghĩa là vinh quang của Thượng Đế. Tôn giáo Baha’i thờ Thượng đế; du nhập vào Việt Nam từ năm 1954. Tôn giáo này được công nhận ở nước ta từ năm 2008.
15. Giáo hội Các thánh hữu Ngày sau của Chúa Giesu Kito (Mặc Môn).
Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Ky-tô ra đời năm 1830 tại Mỹ. Tôn giáo này thờ Đức Chúa trời; du nhập vào Việt Nam từ năm 1962. Được nhà nước công nhận từ năm 2019.
16. Hội thánh Minh Lý Đạo – Tam tông miếu.
Minh Lý đạo – Tam Tông miếu được thành lập năm 1924, bởi 6 người là Âu Kiệt Lâm, Nguyễn Văn Xưng, Nguyễn Văn Đề, Lê Văn Ngọc, Nguyễn Văn Miết, Võ Văn Thạnh. Tôn giáo này dựa trên Tam giáo Phật – Lão – Nho làm căn bản để hướng dẫn tín đồ tu hành. Họ không thờ thánh tượng mà thờ bài vị, kinh sách dùng tiếng Việt để thuận lợi trong việc tu học và truyền bá tư tưởng tôn giáo. Được nhà nước công nhận năm 2008.
Tài liệu tham khảo chính: Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Thế giới.
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




