Mất bao lâu để đi hết một vòng kinh thành Huế? Bạn sẽ dễ dàng tìm thấy câu trả lời về chu vi kinh thành 10.571m, nhưng khi đến lượt tui thì tăng lên thành quãng đường 13km với hơn 2 tiếng đồng hồ di chuyển. Không phải vì lạc đường, mà vì tới mỗi cổng thành, tui cứ lạng qua lạng lại mặt trước và mặt sau cổng thành để ngắm nghía, chậc chậc thích thú rồi mới đi tiếp. May là lúc đó trời vào hoàng hôn, chập choạng tối nên không nhìn thấy rõ; chứ nếu ban ngày hả, chắc tui còn tốn nhiều thời gian hơn nữa.
Khởi công xây dựng năm 1805 trên diện tích 520 ha ở bờ Bắc sông Hương, kinh thành Huế gồm 3 vòng thành, theo thứ tự từ ngoài vào trong là Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành. Bài viết này chỉ tập trung vào các cửa của vòng thành ngoài. Vòng ngoài cùng Kinh thành có 13 cửa ra vào, gồm 11 cửa đường bộ và 2 cửa đường thủy. Phần cửa vòm của các công trình được xây dựng năm 1809 dưới thời vua Gia Long; còn phần vọng lâu phía trên được xây dựng trong giai đoạn 1824-1831 dưới thời vua Minh Mạng. Các cửa ra vào đều khắc tên chữ Hán ở mặt trước và mặt sau cửa. Mỗi mặt phía Đông, Tây, Bắc của Kinh thành đều có 2 cửa, phân bố ở gần các góc thành. Riêng mặt phía Nam, tức là mặt trước Kinh thành, thì có 4 cửa, được chia đều đối xứng qua Kỳ đài Huế. Rồi, bây giờ mời bạn đi một vòng qua kinh thành xưa để chiêm ngưỡng cùng tui nhé, danh sách cửa được liệt kê theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ cửa Thượng Tứ.
* Cửa chính đường bộ: 10 cửa
A. PHÍA NAM KINH THÀNH
1. Cửa Thượng Tứ, cửa Đông Nam
Cửa Thượng Tứ nằm cùng trục đường mặt phía Nam kinh thành với cửa Ngăn, cửa Sập, cửa Nhà Đồ. Cửa nằm bên trái kỳ đài, gần cửa Ngăn. Chữ Thượng Tứ được gọi vì trước đây, gần cửa có Viện Thượng Tứ chuyên trông coi việc nuôi ngựa kéo xe cho vua.

Cửa Thượng Tứ hiện nay là điểm giao nhau giữa đường Ông Ích Khiêm và Đinh Tiên Hoàng; lưu thông một chiều từ đường Đinh Tiên Hoàng bên trong kinh thành ra đường Trần Hưng Đạo bên ngoài Kinh thành.
2. Cửa Ngăn, cửa Thể Nhân (Thể Nhân Môn)
Cửa Ngăn nằm ở phía Nam, bên trái Kỳ đài. Ban đầu cửa được đặt tên Thể Nguyên, sau khi xây dựng vọng lâu phía trên năm 1829 thì nhà vua đổi tên thành Thể Nhân (Thể Nhơn). Mỗi khi nhà vua và hoàng gia đi theo lối Thể Nhân ra vào kinh thành, thường là từ Đại Nội ra Phu Văn Lâu, nhà Lương Tạ ven bờ sông Hương thì quân lính sẽ ngăn con đường trước mặt kinh thành không cho dân qua lại. Vì vậy sau này người dân quen gọi là cửa Ngăn, hoặc cửa Ngăn Dưới để phân biệt với cửa Ngăn Trên là cửa Quảng Đức. Bên trong cửa Ngăn có đặt 4 khẩu súng thần công, còn gọi là Tả đại tướng quân gồm Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Hiện nay cửa Ngăn là đường một chiều từ đường Lê Duẩn đi vào Kinh thành; con đường bên trong kinh thành sau cửa Ngăn là đường Ông Ích Khiêm. Đây cũng là cửa có mật độ đi lại đông nhất vì nằm gần bến xe du lịch để vào tham quan Đại nội Huế.
3. Cửa Sập, cửa Quảng Đức
Cửa Quảng Đức nằm ở phía Nam, bên phải Kỳ đài. Chữ Quảng Đức được lấy từ dinh Quảng Đức, tên gọi trước đây của phủ Thừa Thiên (Năm 1802 vua Gia Long thành lập dinh Quảng Đức khi chọn Phú Xuân làm kinh đô, năm 1822 vua Minh Mạng đổi tên thành phủ Thừa Thiên). Cả cửa Quảng Đức và cửa Thể Nhân đều dành cho vua và hoàng gia ra vào nên đây còn được gọi là cửa Ngăn Dưới để phân biệt với cửa Ngăn Trên (cửa Thể Nhân). Năm 1953 sau cơn lụt lớn, cửa Quảng Đức bị sụp đổ cả cửa lẫn phần vọng lâu nên người dân còn gọi là cửa Sập. Phần vọng lâu phía trên cửa được xây dựng vào năm 1829. Năm 1968 cửa Sập bị phá hoại nặng nề và cấm lưu thông, đến năm 1998 mới phục dựng lại. Bên trong cửa Quảng Đức có đặt 5 khẩu súng thần công, còn gọi là Hữu đại tướng quân gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Tương tự cửa Ngăn, cửa Quảng Đức hiện nay cũng là đường một chiều từ đường Lê Duẩn vào kinh thành; con đường bên trong kinh thành sau cửa Sập là đường Ông Ích Khiêm.
4. Cửa Nhà Đồ, cửa Chánh Nam
Cửa Nhà Đồ nằm ở phía Nam, bên phải Kỳ đài, giữa cửa Sập và eo bầu Tây Trinh (là góc nối mặt Tây và Nam của Kinh thành). Chữ Chánh Nam có nghĩa là cửa chính phía Nam của Kinh thành). Dưới thời vua Gia Long, ở gần địa điểm này có một kho chứa binh khí, vật dụng, đồ dùng cho nhà vua gọi là Đồ Gia. Sau này người dân đọc thành Nhà Đồ. Năm 1953 cửa bị sập sau cơn lụt lớn, cửa bị sập và được phục dựng lại sau này.

Cửa Nhà Đồ hiện nay là đường một chiều từ kinh thành ra đường Lê Duẩn; bên trong kinh thành, cửa Nhà Đồ là giao điểm giữa đường Ông Ích Khiêm và đường Nguyễn Trãi.
B. PHÍA TÂY KINH THÀNH
5. Cửa Hữu, cửa Tây Nam
Tên gọi Tây Nam xuất phát từ vị trí phía Tây Nam của Kinh thành Huế. Phần vọng lâu bên trên được xây dựng năm 1829. Sáng ngày 5/7/1885 (ngày 23/5 năm Ất Dậu), sau sự kiện kinh thành Huế thất thủ (Vì vậy người dân Huế xem ngày này là Ngày Âm hồn), vua Hàm Nghi và Tam cung dưới sự hộ giá của Tôn Thất Thuyết đã rời khỏi kinh thành qua cửa Hữu. Đoàn xa giá đi lên Tân Sở, vùng núi Quảng Trị, lập căn cứ địa phát động phong trào Cần Vương chống Pháp.

Cửa Hữu hiện nay là điểm giao nhau giữa đường Tôn Thất Thiệp và đường Yết Kiêu; lưu thông hai chiều ra vào kinh thành, nối từ đường Yết Kiêu ra đường Lê Duẩn.
6. Cửa Chánh Tây
Cửa Chánh Tây nằm cùng phía với cửa Hữu, đoạn gần eo bầu Tây Thành (đoạn tường phòng thủ nối mặt phía Tây và phía Bắc Kinh thành). Phần vọng lâu bên trên được xây dựng năm 1829. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, nơi đây từng là cửa ngõ giao tranh ác liệt, phần vọng lâu phía trên bị tàn phá hoàn toàn và cũng được phục dựng lại sau này.

Cửa Chánh Tây và cửa Hữu hiện nay đều nằm trên đường Tôn Thất Thiệp. Cửa Chánh Tây là điểm giao nhau giữa đường Tôn Thất Thiệp và đường Thái Phiên; lưu thông hai chiều ra vào kinh thành, nối từ đường Thái Phiên ra đường Lê Duẩn bên ngoài Kinh thành.
C. PHÍA BẮC KINH THÀNH
7. Cửa An Hòa, cửa Tây Bắc
Phía trước cửa này có làng An Hòa, nên người dân còn gọi là cửa An Hòa. Phần vọng lâu bên trên được xây dựng năm 1831.

Cửa An Hòa hiện nay là điểm giao nhau giữa đường Lương Ngọc Quyến và Nguyễn Trãi; lưu thông hai chiều ra vào kinh thành, nối từ đường Nguyễn Trãi ra đường Tăng Bạt Hổ bên ngoài Kinh thành.
8. Cửa Hậu, cửa Chánh Bắc
Chữ Hậu được đặt bởi cửa nằm ở mặt sau kinh thành. Vọng lâu phía trên được xây năm 1831. Năm 1885 sau khi Pháp chiếm Kinh thành huế, cửa Hậu và cửa Trài bị đóng lại để lập đồn Mang Cá. Năm 2004 cửa này được mở trở lại sau thời gian tu sửa.

Cửa Hậu hiện nay cũng nằm trên đường Lương Ngọc Quyến như cửa An Hòa, là điểm giao nhau giữa đường Lương Ngọc Quyến và Đinh Tiên Hoàng. Lưu thông hai chiều ra vào kinh thành, nối từ đường Đinh Tiên Hoàng ra đường Tăng Bạt Hổ bên ngoài Kinh thành. Sát cửa Hậu là bệnh viện Quân y 268, do đó đoạn này không thể tiếp tục đi theo đường bao quanh bên trong kinh thành.
D. PHÍA ĐÔNG KINH THÀNH
9. Cửa Trài, cửa Kẻ Trài, cửa Đông Bắc
Xưa kia, nơi đây có dãy nhà, hàng quán nhỏ lúp xúp hai bên bờ sông nên người dân hay gọi là “nhà trài”, lâu dần thành tên “Kẻ Trài”. Năm 1822, mặt tường phía Đông Kinh thành mới được ốp gạch vồ, diễn ra sau mặt tường phía Tây (năm 1818). Tuy nhiên, các cửa phía Đông gồm cửa Trài và cửa Đông Ba lại là 2 cửa đầu tiên được xây vọng lâu bên trên, năm 1824.

Cửa Trài hiện nay là điểm giao nhau của ngã ba giữa đường Lương Ngọc Quyến và Cửa Trài; lưu thông hai chiều ra vào kinh thành, nối từ đường Cửa Trài ra đường Đào Duy Anh bên ngoài Kinh thành. Đoạn này nằm trong khu quân đội nên khá vắng vẻ.
10. Cửa Đông Ba, cửa Chính Đông
Nằm cùng phía với cửa Trài là cửa Đông Ba. Đông Ba cũng là tên sông ở đây. Trước kia cửa mang tên Đông Hoa, xuất phát từ pháo đài Đông Hoa dưới thời vua Gia Long. Sau này đổi thành Đông Ba vì kị tên húy của bà Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị). Phần vọng lâu bên trên được xây dựng năm 1824. Ngày 5/7/1885 một trận giao tranh ác liệt đã diễn ra giữa quân triều đình do Tôn Thất Thuyết chỉ huy với quân Pháp. Năm 1968, vọng lâu đã bị đánh sập bởi bom đạn và cửa vòm cũng hư hại nặng nề.

Cửa Đông Ba hiện nay là điểm giao nhau giữa đường Mai Thúc Loan và Xuân 68; lưu thông hai chiều ra vào kinh thành, nối từ đường Mai Thúc Loan ra đường Huỳnh Thúc Kháng bên ngoài Kinh thành.
* Cửa phụ đường bộ: 1 cửa
11. Cửa Trấn Bình
Cửa Trấn Bình nằm giữa cửa Trài và pháo đài Đông Bình ở đoạn eo bầu phía Đông Bắc này, cùng phía với cửa Trài và cửa Đông Ba. Đây không phải là cửa chính đi ra ngoài thành như các cửa khác; mà chỉ là cửa phụ nối ra Trấn Bình Đài (đồn Mang Cá). Cửa này đã đóng cửa vĩnh viễn, hiện nằm trong khu quân đội và không thể tiếp cận.
* Cửa đường thủy: 2 cửa
Có 2 cửa đường thủy nối kinh thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Tây thành và Đông thành Thủy quan
12. Tây thành Thủy quan, cống Thủy quan
Cửa này xây dựng năm 1826 dưới thời vua Minh Mạng, nằm ở phía Tây kinh thành. Đây là cửa dẫn nước từ sông Kẻ Vạn vào sông Ngự Hà – con sông đào chảy xuyên qua Kinh thành. Tây thành Thủy quan được thiết kế dạng cống vòm với một cửa cống có thể đóng mở cho ghe thuyền đi qua, phía trên là đường đi. Tây thành Thủy quan hiện nằm cùng trục đường với cửa Hữu và cửa Chánh Tây, trên đường Tôn Thất Thiệp, đoạn giữa đường Triệu Quang Phục và Ngô Thế Lân.
Đọc thêm: Tây thành Thủy quan – con đường thủy vào kinh thành Huế
13. Đông thành Thủy quan, cống Lương Y, cống Thanh Long
Cửa này được xây dựng năm 1830 dưới thời vua Minh Mạng, nằm ở phía Đông kinh thành. Đông thành Thủy quan nối dòng Ngự Hà với sông Đông Ba, có 1 cửa cống và dài hơn nhiều so với Tây thành Thủy quan. Đông thành Thủy quan hiện nằm cùng trục đường với cửa Trài và cửa Đông Ba, trên đường Xuân 68 đoạn giữa đường Lê Văn Hưu và đường Lương Y.
Đọc thêm: Đông thành Thủy quan – cửa ngõ thơ mộng của kinh thành Huế
Đọc thêm về các địa điểm khác được công nhận là di sản văn hóa thế giới thuộc quần thể di tích cố đô Huế:
- Lăng vua Tự Đức – một chiều Huế trong veo
- Lăng vua Minh Mạng – điểm đến hữu tình xứ cố đô
- Hổ Quyền – Đấu trường sinh tử đất cố đô
- Điện Voi Ré – nơi tôn vinh loài voi ở Huế
- Chiêm ngưỡng các cổng vào kinh thành Huế
- Độc đáo kiến trúc các cửa vào Đại nội kinh thành Huế
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




