Vết đạn trên thành cổ Quảng Trị

Mỗi lần vào thành cổ Quảng Trị, tôi hay thơ thẩn đi vòng quanh. Đi thật nhẹ, thật nhẹ. Nơi đây năm 1972 có biết bao chiến sĩ đã nằm xuống khi tuổi đời chỉ vừa chạm ngưỡng đôi mươi. Tôi ra phía cửa Hậu, trên tường và cánh cửa sắt là chi chít vết bom đạn. Các cửa Tả, Hữu đã sập, chỉ còn lại một mảng tường thành dang dở.

Cửa Hậu của thành cổ Quảng Trị.

Đa phần những lần tôi đến thành cổ đều giữa cái nắng khô khốc mùa hè, lúc những cơn gió chỉ còn chút hơi nước, cơn nóng hầm hập bủa vây, cộng với ánh mặt trời gay gắt chiếu xuống khiến ai nấy mồ hôi nhễ nhại. Vậy mà, trong cái nắng vắt kiệt sức người, rồi cơn mưa dầm miền Trung lạnh buốt run rẩy, ở nơi đây từng có mười mấy nghìn người chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để giành giật từng tấc đất hòa bình cho non sông, để rồi hơn 4000 người đã nằm lại vĩnh viễn.

Dòng người vào thành cổ.

Tụi tôi, những kẻ sinh ra trong hòa bình, sống sung sướng đến đôi khi mụ mị cả đầu óc, khó khăn một xíu đã rên rỉ. Thật khó mà tưởng tượng nơi đây, dưới lớp cỏ xanh mềm mại là lớp lớp bom đạn đã cày tan nát từng mét vuông đất. Thật khó mà tưởng tượng nổi hơn nửa thế kỷ trước, những chàng trai cô gái đã sống, chiến đấu như thế nào trong cơn mưa bom bão đạn, giữa lằn ranh sinh tử ấy. Họ dùng máu và thanh xuân để viết nên khúc hùng ca non sông Việt.

Cửa Tiền của thành cổ, nhìn từ trong thành ra. Cửa mới được phục dựng từ 1992.

1. Quảng Trị và cuộc hành quân Lam Sơn của chế độ Việt Nam Cộng hòa năm 1972

Ngày 1/5/1972, Quảng Trị được giải phóng. Bị mất vùng tiền đồn quan trọng cùng hàng loạt các vị trí chiến lược như Khe Sanh, cầu Hiền Lương, hàng rào điện tử McNamara…, Mỹ – ngụy điên cuồng mở cuộc tái chiếm tỉnh Quảng Trị hòng lấy lại danh dự và điểm chốt quân sự này. Ngày 13/6/1972 cuộc phản kích mang mật danh Lam Sơn 72 được khởi động và mục tiêu số một là phải chiếm được Thành cổ, vì có địa điểm này là cơ bản chiếm được tỉnh Quảng Trị. Tổng thống Mỹ Nixon vừa yêu cầu Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phải lấy lại tỉnh Quảng Trị với mục tiêu chiếm thị xã Quảng Trị và cắm cờ lên thành cổ trước ngày 10/7/1972, vừa thực hiện “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh để cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang trên bờ hấp hối. Mỹ tăng gấp đôi số máy bay ném bom chiến lược B52, tập trung lực lượng không quân, hải quân, tăng thiết giáp, xe phun lửa… chi viện hỏa lực trực tiếp cùng những sư đoàn bộ binh, lính thủy đánh bộ, biệt động thiện chiến nhất, được trang bị vũ trí đầy đủ, tối tân, hiện đại. Quân số này tương đương 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn và nhiều đơn vị không quân, pháo hạm, tổng cộng khoảng 35000 người. Tư lệnh Quân khu 1, Quân đoàn 1 là Trung tướng Ngô Quang Trưởng – một viên mãnh tướng được đặt nhiều kỳ vọng nhất trong đội ngũ tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa. Quan trọng nhất là toàn bộ lực lượng đó đổ dồn vào một tòa thành cổ và thị xã chưa đầy 3km2.

Thành cổ yên bình hôm nay.

Về góc độ quân sự, “Lam Sơn 72” hy vọng chiếm được Quảng Trị, vùng đất tiền đồn phía Nam, tuyến giao thông huyết mạch nối Việt Nam với Lào; từ đó phá được thế tiến công của quân ta và giữ vững Huế. Về góc độ chính trị, nếu chiến thắng sẽ giải tỏa tâm lý thất bại đang lan tràn trong quân đội ngụy và gây được sức ép trong đàm phán với ta tại Hội nghị Paris (Hội nghị Paris dự định mở lại vào ngày 13/7/1972 sau nhiều lần trì hoãn; nên địch đặt mục tiêu chiếm thị xã Quảng Trị trước ngày 10/7/1972). Về góc độ chiến lược, đây là một trong những nỗ lực cuối cùng để cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sắp phá sản. Đến ngày 27/6/1972, địch đã sẵn sàng về mọi mặt cho một cuộc tấn công tổng lực ra vùng giải phóng Quảng Trị.

2. Quang Sơn còn, Quảng Trị còn. K3 Tam Đảo còn, Thành cổ còn.

Quảng Trị quan trọng như thế nào với phe bên kia thì cũng có vị thế với ta như thế ấy. Do vậy, cùng ngày 27/6/1972, phía ta đã chuẩn bị các hoạt động quân sự phối hợp với đấu tranh ngoại giao để đối phó với động thái của địch. Tối 28/6/1972, Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm “Chuyển từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phản công nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giữ vùng giải phóng, đánh bại cuộc hành quân của địch và phát triển lúc thời cơ có lợi”. Các Sư đoàn 308 (Trung đoàn 36, 102, 66, Tiểu đoàn 2 độc lập), 304 (trung đoàn 24, 9, 88, Tiểu đoàn đặc công 35), 320B (Trung đoàn 27, 64, 18, Tiểu đoàn 14, 17 địa phương) được phân công ngăn chặn các hướng tiến công của địch. Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương và 3 tiểu đoàn phòng không bảo vệ thị xã Quảng Trị, La Vang, Ái Tử. Đồng thời, sơ tán 8 vạn dân ra khỏi vùng có chiến sự ác liệt như thị xã Quảng Trị, Thiệu Phong, Hải Lăng…; chỉ còn lại dân quân, du kích, bộ đội trong khu vực chiến đấu.

Trong đó, lực lượng ban đầu bảo vệ thành cổ Quảng Trị chủ yếu do Trung đoàn 48 (Trung đoàn Thạch Hãn) phụ trách. Phiên hiệu của Trung đoàn lúc bấy giờ là “Quang Sơn” và khẩu hiệu tiến công của Trung đoàn là “Quang Sơn còn, Quảng Trị còn”.

Dâng hoa tại Đài tưởng niệm trong thành cổ, được xây dựng như 1 ngôi mộ chung cho tất cả các chiến sĩ.

Chiến trường ngày càng khốc liệt, nhiều đơn vị được cử vào chi viện cho thành cổ. Trong đó, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 246 sau chiến thắng giòn giã ở cao điểm 689 trên mặt trận Đường 9 – Khe Sanh, đã được điều về tỉnh đội Quảng Trị với phiên hiệu “K3 – Tam Đảo”. Sáng ngày 9/7/1972, tại làng Nhan Biều (Triệu Phong, Quảng Trị), Thiếu tướng Lê Trọng Tấn – Tư lệnh mặt trận B5 – đã giao cho Tiểu đoàn K3 – Tam Đảo trực tiếp chốt giữ bảo vệ bên trong thành cổ Quảng Trị. Lời thề của họ là “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ còn”. Họ cũng là những người cuối cùng rời thành cổ vào ngày 16/9/1972.

Trong những người lính của 81 ngày đêm máu lửa ấy, một số lượng lớn các chiến sĩ chỉ mới tròn đôi mươi. Có người là sinh viên tạm gác lại ước mơ con chữ để cầm súng lên đường, có người chỉ mới vừa đủ tuổi tòng quân. Tính trung bình, mỗi ngày có 1 đại đội bơi qua sông Thạch Hãn để tiếp cận thành cổ, và có 1 đại đội không thể quay về. Chỉ riêng đoạn sông rộng chừng 250m ấy, dưới làn mưa bom đạn địch, có bao người vĩnh viễn nằm lại không thể vượt sông dù chưa một ngày kịp cầm súng.

Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm

(Đò xuôi Thạch Hãn – Lê Bá Dương, 27/7/1987)

Số ít qua được sông ngay lập tức gia nhập vào lực lượng chiến đấu. Các hào được đào sâu xuống đất 2m, gia cố tầng hầm 1.2m, lấp đất lên rồi làm công sự bên trên để phòng ngự. Các mảnh tôn, gỗ từ nhà cửa của người dân bị đổ nát được tận dụng che chắn công sự. Sau những ngày nắng đổ lửa, đến cuối tháng 7/1972, từ ngày 28/7 mưa bắt đầu về. Nước sông Thạch Hãn dâng cao khiến hầm hào sụt lở. Chiến sĩ ta vừa đội mưa, vừa ngâm mình trong nước suốt ngày đêm, vừa đói vừa rét do đường tiếp tế gặp khó khăn vì đạn địch bắn rát; vết thương không kịp chữa trị nên hao tổn sức lực rất nhiều. Bùn, nước, máu, xác ngổn ngang khắp nơi. Chênh lệch lực lượng quá lớn khi địch được trang bị kỹ càng, hỏa lực dội xuống liên tục khiến phòng tuyến vòng ngoài của ta bị vỡ dần. Sang tháng 9/1972, cuộc chiến càng căng thẳng, ác liệt, 2 bên tranh giành nhau từng góc thành cổ. Đến 18h ngày 16/9/1972 quân ta được lệnh rút lui về bờ Bắc sông Thạch Hãn để bảo toàn lực lượng.

Trong lòng đài tưởng niệm được thiết kế rỗng với hai trục đường giao nhau, tượng trưng cho sự hội tụ linh hồn các chiến sĩ từ tứ phương.

3. Túi bom thành cổ

Cuộc chiến bảo vệ thành cổ đã diễn ra trong 81 ngày đêm, kéo dài gấp 8 lần so với dự kiến của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Địch trút xuống nơi đây 328.000 tấn bom đạn, tương đương với 7 quả bom nguyên tử ném vào thành phố Hirosima của Nhật Bản tháng 8/1945. Cả mặt trận thị xã trống trải hoàn toàn do bom đạn đã san bằng, không còn chỗ ẩn nấp. Không một ngày nào ngơi tiếng súng, từ B52 rải thảm, bom tọa độ, pháo bầy 106.7mm, bom phá, bom napan, bom lân tinh, bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng lade đến pháo của Hạm đội 7 ở ngoài biển, pháo chơm, pháo khoan, chất độc hóa học, hơi ngạt và cả súng phun lửa. Trung bình mỗi ngày có 150-170 lần máy bay phản lực xuất kích, 70-90 lần B52 ném bom hủy diệt, các pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới 2 vạn viên đạn. Với chiến thuật tấn công “chậm chắc”, nên khi gặp quân ta thì địch dừng lại, dội bom đạn pháo tiêu diệt rồi mới tiếp tục tiến công.

Cửa Tả chỉ còn một trụ, phần cửa sắt là mới làm sau này.

Các sử liệu cho thấy, tổng lực lượng của ta khoảng 14000 người, trong khi phía địch hơn gấp đôi, khoảng 35000 người. Trong khoảng 642 trận đánh suốt 81 ngày đêm, quân ta đã bắn rơi 180 máy bay, phá hủy 140 xe quân sự (trong đó có 90 xe tăng và xe bọc thép), 20 khẩu pháo… Bình quân mỗi chiến sĩ ta phải hứng chịu 250 quả đạn pháo, 100 tấn bom. Có hơn 1 vạn người đã nằm lại nơi đây, gồm khoảng 4000 chiến sĩ ta và 7.776 quân của phe bên kia. Trong đó có khoảng 65% liệt sĩ quân đội ta là sinh viên, tức là khoảng 2600 người trẻ đã nằm lại để bảo vệ ước mơ hòa bình cho đất nước. Đến 80% quân ta hy sinh là do sức ép của bom đạn hoặc bị vùi lấp. Có những người khi hy sinh, phần thân trên cháy đỏ, phần thân dưới bị ngâm nước đến trắng da. Có người vừa được chôn cất tạm bợ xong thì lại bị pháo cày xới lên, bom nã xuống, xem như đã hy sinh thêm lần nữa.

Cửa Hữu cũng trong tình trạng như cửa Tả.

Sau gần 3 tháng chiến đấu ngoan cường, ta phải rút quân nhằm bảo toàn lực lượng, tiếp tục cho công cuộc kháng chiến lâu dài. Tuy thương vong nặng nề và không giữ được thành cổ, nhưng nhiệm vụ được giao đã hoàn thành khi làm thất bại ý đồ nhanh chóng tái chiếm thành cổ của địch, buộc Mỹ phải xuống thang trên bàn đàm phán Hội nghị Paris. Như vậy, dù địch cuối cùng chiếm được thành cổ nhưng thua trên toàn cục chiến tranh.

4. Vĩ thanh

Trong lịch sử vẻ vang của quân đội ta đã có 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non của rừng núi Điện Biên Phủ năm 1954; 177 ngày đêm của năm 1968 giằng co ác liệt nơi chảo lửa Khe Sanh; 81 ngày đêm đỏ lửa 1972 giữ gìn từng tấc đất thành cổ Quảng Trị; hay 12 ngày đêm mùa đông năm 1972 đối mặt với thần sấm B52 để bảo vệ bầu trời thủ đô… Không thể đong đếm được bao nhiêu thời gian. Chỉ biết rằng các thế hệ cha anh, lớp này nằm xuống thì có lớp khác đứng lên chỉ với một khát khao duy nhất là độc lập tự do cho non sông. Hòa bình đẹp đẽ của hôm nay đã đổi bằng máu xương của những người đi trước. Sẽ không có trang sách nào kể hết sự hy sinh của các anh, không có tượng đài nào đủ cao để xứng với công lao của các anh. Chỉ xin được cúi đầu lần nữa trước những chiến sĩ và những người mẹ, người vợ đã đi qua chiến tranh bằng máu xương và nỗi đau riêng mình.

Trân trọng!

-Việt An-

Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *