Hội An trong mắt nhiều người là phố thị hào hoa một thời, là nơi nườm nượp khách đổ về ở mọi khoảng thời gian trong năm. Có người nhớ nhung Hội An bởi mái ngói nâu đỏ nhuộm màu rêu phong, bởi dãy tường vàng nắng, khung cửa gỗ mun đen bóng và những chiếc đèn lồng chao nghiêng. Có người lưu luyến khoảnh khắc ngồi ven sông, ngắm những con đò tấp nập ngược xuôi, nghe câu hát bâng quơ của ai đó tan trong tiếng gió. Nhưng Hội An không chỉ toát lên sự lãng mạn rất thơ và rất tình. Hội An còn mang vẻ đẹp đến từ nét trầm lắng quyến rũ và những lớp đan xen dày đặc về văn hóa, kiến trúc, lịch sử, thương mại và cả chính trị.

Ngày 1/12/1999, Hội nghị lần thứ 23 của Ủy ban Di sản thế giới họp tại Marrakesh (Morocco) đã ghi danh “Khu phố cổ Hội An” là Di sản văn hóa thế giới khi thỏa mãn 2 tiêu chí là tiêu chí (ii): là một sự biểu thị vật chất nổi bật của sự hòa trộn của các nền văn hóa vượt thời gian tại một thương cảng quốc tế, và tiêu chí (v): là một điển hình nổi bật về bảo tồn một thương cảng châu Á cổ truyền.
Nhất cận thị, nhị cận giang
Hội An nằm ở tả ngạn hạ lưu sông Thu Bồn, gần cửa biển Cửa Đại, rất thuận tiện cho hoạt động giao thương bằng đường thủy. Sông Thu Bồn bắt nguồn từ vùng núi Ngọc Linh cao 2598 m thuộc dãy Trường Sơn, ở khu vực giáp ranh giữa Quảng Nam, Kon Tum và Quảng Ngãi (địa danh trước sáp nhập). Sông dài hơn 200km, lưu vực rộng 10350 km2. Sau khi chảy xuống Hội An, nơi đây được thiên nhiên ưu ái cho một dòng chảy thuận lợi, khí hậu tương đối ôn hòa. Hơn nữa, nó còn gần với các tuyến hàng hải trên thế giới, nằm ở vị trí trọng yếu trong tam giác ngoại thương giữa Trung Hoa, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á. Nhờ vậy, Hội An có điều kiện để trở thành trạm trung chuyển nối liền các nước Đông Nam Á với Trung Quốc, Nhật Bản, châu Âu. Có thể nói, với địa thế thuận lợi, Hội An coi như đã “thắng đời 1-0”, khẳng định mình trên hải trình quốc tế như một cảng thị năng động, sầm uất.

Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên này dần biến mất khi vào khoảng thế kỷ 19, cửa sông Cửa Đại và sông Cổ Cò bị bồi lấp dần, góp phần làm Hội An mất đi vị thế thương cảng sầm uất. Bây giờ, khi đi qua cầu Cửa Đại và nhìn ra phía biển, bạn sẽ thấy một doi cát phía đằng xa. Đây là kết quả của sự bồi lắng liên tục của dòng Thu Bồn qua thời gian, khiến lòng sông trở nên cạn dần, gây khó khăn cho tàu thuyền lớn ra vào. Nếu nhìn từ trên cao xuống hoặc bằng Google maps, doi cát này có hình dáng na ná con cá heo.
Từ cầu Cửa Đại nhìn ra biển, nơi có doi cát bồi lắng đằng xa.
Từ nền văn hóa Champa rực rỡ đến thương cảng quốc tế
Ngược về quá khứ trước thế kỷ 13, cảng thị Hội An xưa từng là trung tâm văn hóa đậm dấu ấn Champa của tiểu quốc Amaravati. Đến thời Đại Việt, sau khi hình thành khoảng thế kỷ 16, cảng thị Hội An đã phát triển hưng thịnh vào thế kỷ 17, 18.

Năm 1558 Chúa Nguyễn Hoàng đi về phương Nam trấn thủ đất Thuận Hóa, năm 1570 mở rộng kiểm soát đến Quảng Nam. Từ đây, các chúa Nguyễn Hoàng bắt đầu khai thác Hội An như một cửa ngõ giao thương quốc tế bằng các chính sách ngoại giao cởi mở, mềm dẻo. Năm 1567 sau khi nhà Minh dỡ bỏ chính sách “cấm hải” (Haichin), chúa Nguyễn tiến hành kết nối với Trung Hoa. Năm 1591 chúa Nguyễn Phúc Nguyên gửi thư cho Tướng quân Toyotomi Hideyoshi, xác lập quan hệ giao thương với Nhật Bản. Theo Viện nghiên cứu quốc tế tại Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản), chỉ tính riêng 30 năm đầu thế kỷ 17 từ 1601-1635, hơn 350 Châu Ấn thuyền của Nhật Bản đã ra khơi và 80% (280 thuyền) đến Đông Nam Á. Trong đó, lượng thuyền cập cảng Hội An khoảng 70 chiếc trên tổng số 85 thuyền đến Đàng Trong; bao gồm: An Nam có 14 thuyền, Thuận Hóa 1 thuyền, Cochinchina 70 thuyền (Litana, 2025). Số thuyền ghé Hội An cũng cao gấp đôi so với cảng Phố Hiến của Đàng Ngoài.
- Góc nhỏ: Năm 1593, sau khi thống nhất Nhật Bản, tướng quân Tokugawa Ieyasu cho thực thi chính sách quan hệ hữu nghị với các nước thông qua hoạt động giao thương. Ông ban hành chính sách “Goshuinjo” (Ngự chu ấn trạng) – giấy phép có đóng con dấu màu đỏ, cho phép tàu thuyền Nhật Bản ra nước ngoài buôn bán và ngược lại, tàu thuyền nước ngoài đến Nhật để buôn bán. Giấy thông hành đặc biệt này gắn liền với chế độ Shuinsen “Châu Ấn thuyền”, loại thuyền có trang bị vũ trang. Với chính sách này, chính quyền Mạc phủ Tokugawa muốn xác lập quyền lực của mình, đồng thời hy vọng đảm bảo an toàn cho cả tàu buôn Nhật và nước ngoài trên biển. Học hỏi kỹ thuật đóng tàu từ phương Tây, các tàu này có trọng tải 300-600 tấn, có thể chở 4000-5000 kg tơ sống và các hàng hóa khác.
- Chế độ Mạc phủ (Bakufu) tồn tại trong giai đoạn 1192-1867 ở Nhật Bản. Đây là chính quyền quân sự phong kiến do tầng lớp võ sĩ Samurai xây dựng. Tương tự như thời kỳ vua Lê – chúa Trịnh ở Việt Nam tồn tại cơ chế 2 chính quyền (lưỡng đầu chế), trong chế độ Mạc phủ thì quyền lực điều hành đất nước trong thực tế thuộc về các tướng quân (Shogun), còn Thiên hoàng (Tenno) mang tính danh nghĩa, biểu tượng.
- Quan hệ bang giao Việt – Nhật còn thể hiện qua việc chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả nghĩa nữ là Công Nữ Ngọc Hoa cho thương nhân Araki Sotaro xứ Nagasaki năm 1619 khi ông sang buôn bán tại Hội An. Bà vốn là con gái của Trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Phúc Kỳ. Ông Araki được cha vợ ban cho tên tiếng Việt là Nguyễn Thái Lương. Một năm sau, năm 1620, ông đưa vợ về quê hương Nhật Bản trên một chiếc Châu Ấn thuyền. Bà cũng được xem như người Việt đầu tiên lấy chồng Nhật.

Bên cạnh đó, các thương nhân châu Á như Mã Lai (Malaysia), Xiêm (Thái Lan), Ấn Độ hoặc phương Tây như Anh, Hà Lan, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng không bỏ qua cảng thị hấp dẫn này. Trên biển, tàu buôn từ Âu đến Á đã chọn nơi đây là điểm dừng chân. Trên bờ, các thương nhân lập hội quán, xây dựng cửa hàng, mở rộng hoạt động làm ăn buôn bán. Nhà cửa theo đó cũng mọc lên san sát dọc theo sông Thu Bồn. Hội An không chỉ trở thành trung tâm giao dịch lớn nhất Đàng Trong thời bấy giờ mà còn là đô thị – thương cảng nổi bật của Đông Nam Á.
- Đọc thêm: Chùa Cầu – dấu ấn văn hóa phố cổ
- Chiều về trên cánh đồng rau Trà Quế (Hội An)
- Có một Hội An nhuộm vàng
Nhà cổ và kiến trúc “mắt cửa” đặc trưng nơi phố Hội.
Sau năm 1635 dưới chính sách bế quan tỏa cảng của chính quyền Mạc phủ Tokugawa, người Nhật bắt đầu hạn chế đến Hội An. Thay vào đó, người Hoa dần chiếm chỗ. Đồng thời, một bộ phận người Hoa theo nhà Minh tìm đường di cư sang đây, lập Minh Hương xã, định cư và buôn bán lâu dài.
Sau thời kỳ hoàng kim, do yếu tố địa chính trị thay đổi, phố Hội xưa dần rơi vào cảnh suy thoái. Cửa biển bị bồi lấp, Pháp chuyển dịch đầu tư mạnh vào cảng Đà Nẵng, nhà Nguyễn áp dụng chính sách hạn chế ngoại thương, cộng đồng thương nhân người Hoa di cư vào Nam, các tuyến thương mại quốc tế có sự thay đổi… được xem là những nguyên nhân chính dẫn đến điều này. Giai đoạn của thương cảng thuyền buồm Hội An kết thúc, mở đường cho thương cảng thuyền máy Đà Nẵng phát triển.

- Đọc thêm: Làng gốm Thanh Hà – 500 năm tạo nên vẻ đẹp cho đất
- Công viên Đất nung Thanh Hà – ngắm cả thế giới thu nhỏ trong lòng một bảo tàng
——-
Tài liệu tham khảo: Li Tana (2025), Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18, Nxb Trẻ.
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




