Đầu năm 2026, sau 3 năm thực hiện đại trùng tu, chùa Viên Giác mở cửa trở lại. Đây là một trong các công trình thờ tự quan trọng của thiền phái Liễu Quán – một dòng thiền mang đậm bản sắc Việt ra đời vào thế kỷ 18 ở Đàng Trong.
Địa chỉ: Chùa Viên Giác nằm phía nam dòng Hương Giang, ở đường Út Tịch, phường Thuận Hòa, Tp. Huế. Nếu có tìm kiếm thông tin về chùa Viên Giác thì bạn nhớ ghi rõ là ở Huế nhé, vì ở nước ta còn một số ngôi chùa khác cũng mang tên Viên Giác, như tại Tp. Đà Nẵng (ở 48 Hùng Vương, Hội An), Tp. Hồ Chí Minh (ở 193 Bùi Thị Xuân, phường Tân Sơn Hòa), tỉnh Gia Lai (ở Ân Tường, Hoài Ân cũ). Đường Út Tịch cũng rộng rãi (quy hoạch 19.5m), xe 45 chỗ đi thoải mái.
Gian chánh điện chùa Viên Giác.
Thiền phái Liễu Quán
Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) họ Lê, pháp danh là Thiệt Diệu (Thực Diệu), tự là Liễu Quán, sinh tại làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, dinh Phú Yên; nay là xã Tuy An Bắc, tỉnh Đăk Lăk. Ngài vào chùa năm 12 tuổi, học đạo với hòa thượng người Trung Quốc tên là Tế Viên. Hòa thượng Tế Viên là một thiền sư của thiền phái Lâm Tế, là vị tổ khai sơn chùa Hội Tôn ở Phú Yên. Ngài tiếp tục theo học nhiều người nữa, và vị cuối cùng là Đại sư Minh Hoằng Tử Dung ở núi Long Sơn. Sau khi đắc pháp, hòa thượng Liễu Quán mở ra một dòng thiền mới, kế thừa và phát triển dòng Lâm Tế kết hợp với bản sắc thuần Việt, gọi là Thiền phái Liễu Quán. Điểm nổi bật ở đây là sự pha trộn linh hoạt giữa các yếu tố Thiền – Giáo – Tịnh. Năm 1708, Thiền sư Liễu Quán khai sơn chùa Thiền Tôn ở Huế (nay ở địa chỉ 29/77 Ngũ Tây, phường An Cựu) và được xem là tổ đình của phái Liễu Quán.
Khuôn viên chùa mới ngập trong sắc xanh cây lá.
Nguồn gốc chùa Viên Giác
Chùa Viên Giác do vị Tổ sư Liễu Quán xây dựng trong thời gian hoằng hóa đạo Phật tại Phú Xuân giai đoạn 1722-1742. Thuở ban đầu, nơi đây chỉ là thảo am Cát Tường. Sau cuộc nội chiến ở Đại Việt cuối thế kỷ 18 giữa các tập đoàn phong kiến lâu đời Trịnh, Nguyễn và phong trào Tây Sơn, chùa bị hư hại và bỏ hoang. Đến thời vua Minh Mạng (1820-1840), đại sư Long Hưng đến trụ trì, trùng hưng và đổi tên thành Viên Giác tự. Năm 1848, công chúa Diên Phước Nguyễn Phước Tịnh Hảo, trưởng nữ của vua Thiệu Trị và là chị gái vua Tự Đức đã phát tâm cúng dường xây dựng chùa. Sau này chùa còn nhiều lần bị hư hại. Tháng 4/2023, chùa bắt đầu công cuộc đại trùng tu và hoàn thành vào đầu năm 2026.
Các công trình trong chùa Viên Giác đều lợp mái ngói liệt (ngói chiếu) – loại ngói mỏng, dẹt, màu nâu đỏ đặc trưng của kiến trúc truyền thống Huế.
Ngôi chùa Viên Giác xưa kia từng được Tùng Thiện vương Miên Thẩm ghé thăm và sáng tác bài thơ “Qua chùa Viên Giác”.
Hoa mai tay bẻ bước lên cầu
Đường nhỏ quanh co gió thổi ào
Cửa đóng sư già không xuống núi
Chông đèn nhà Phật song kinh trào
Góc nhỏ: Tùng Thiện Vương (1819-1870) tên tự là Thận Minh, Trọng Uyên, là con trai thứ 10 của vua Minh Mạng và là em vua Thiệu Trị. Năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên thành Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Năm 1939 vua Minh Mạng sắc phong ông là Tùng Quốc Công. Dưới thời vua Tự Đức, năm 1854 ông được phong là Tùng Thiện Công; năm 1878 truy tặng tước Tùng Thiện Quận Vương. Năm 1924 vua Khải Định truy tặng tước Tùng Thiện Vương. Tùng Thiện Vương Miên Thẩm nổi tiếng là người thông minh đĩnh đạc, uyên bác, và giỏi nhất là khả năng thơ phú. Người đời có câu “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán; Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường” để ca ngợi về tài năng này của ông (có tài liệu cho rằng câu này do vua Tự Đức viết nhưng chưa được xác minh rõ ràng). Ngoài ra, ông cùng với 2 người em là Tuy Lý Vương và Tương An Quận Vương được xưng tụng là “Tam Đường” của triều Nguyễn. Ông có tổng cộng 20 con trai và 12 con gái. Trong đó, con rể đầu của ông là Đoàn Hữu Trưng chính là người khởi xướng loạn chày vôi trong quá trình xây dựng lăng vua Tự Đức.
Người thiết kế chùa Viên Giác mới rất biết cách “chơi đùa” với nắng, ánh sáng, gió và gạch ngói để tạo nên một công trình ấn tượng từ mọi góc nhìn.
Kiến trúc ấn tượng của chùa Viên Giác
Chùa Viên Giác nằm trên một gò đất nhỏ, được thiết kế với kiến trúc đối xứng gần như hoàn hảo. Bước qua khoảng sân rộng sau cửa lớn là gian chính điện.
Chánh điện mang tông gỗ nâu đỏ với sự kết hợp khá đặc biệt giữa bức tường gạch thô, gạch bông gió và những thanh gỗ đặt song song trên trần thành nét trang trí ấn tượng.
Ngay giữa gian chính điện đặt tôn tượng Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni bằng đồng. Phía sau bức tượng là một tấm kính tròn lớn có thể nhìn xuyên qua khu vườn xanh mát phía sau. Tui thật sự thích thiết kế ấn tượng này. Tấm kính trông như một vòng hào quang bao quanh Đức Phật. Thay vì vòng đèn điện xanh đỏ tím vàng như một số nơi thì hào quang của Đức Phật ở đây là cây cối, là thiên nhiên đầy sức sống, như tái hiện cảnh Người ngồi thiền đắc đạo dưới bóng cây trước kia. Vòng ra phía sau gian chính điện là khu tổ đường thờ Lịch đại Tổ sư Liễu Quán.
Đi hết một hành lang tròn là quay về điểm xuất phát, như vòng luân hồi của cuộc đời.
Từ chính điện nối ra các dãy sương phòng và hậu điện bằng hệ hành lang hình tròn độc đáo. Hành lang vòng tròn này hàm chứa tư tưởng về Tánh Không của Phật giáo Thiền định, là nền tảng của chân tâm, trí tuệ và giải thoát. “Không” nhưng không hề trống rỗng, bởi khoảng trống ở giữa biểu thị cho sự phi bản ngã, tĩnh lặng; và nét tròn đầy bên ngoài là sự viên mãn, giác ngộ, khả năng dung chứa vạn pháp.
Những bức tường bằng gạch bông gió là điểm nhấn ấn tượng khi có nắng xuyên qua.
Phía sau chùa là tòa bảo tháp 3 tầng. Tầng 1 thờ tự xá lợi và tro cốt những người có công với chùa. Tầng 2 lưu giữ bức hoành phi Viên Giác tự được làm vào mùa xuân năm Minh Mạng thứ 9 (1828). Tầng 3 thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng gỗ sơn son thếp vàng có từ triều Nguyễn. Trong khuôn viên chùa còn có một ngôi mộ cổ chưa rõ lai lịch, nằm phía sau chùa.
Bảo tháp của chùa.

- Đọc thêm: Chùa Thập Tháp – chốn thiêng tìm về
Toàn cảnh chùa Viên Giác nhìn từ trên cao. Ảnh: Võ Thạnh (VnExpess)
-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




