Từ sân bay Tà Cơn đến Đường 9 – Khe Sanh

Sân bay Tà Cơn là một trong những cứ điểm quân sự chiến lược của Mỹ những năm 1966-1968 tại chiến trường Khe Sanh. Dấu tích của cuộc chiến năm xưa giờ chỉ là những chiếc máy bay hoen gỉ, lô cốt và giao thông hào cỏ dại mọc đầy, cùng những vỏ bom và hình ảnh chứng tích một thời. Chỉ bao nhiêu đó không đủ để nói hết mấy trăm ngày quân ta oằn mình dưới lửa đạn để đánh địch, giành lại từng chút một mảnh đất quê hương. Nhưng chỉ cần chạm khẽ vào bao nhiêu đó cũng đủ để nhắc nhớ, để tự hào về truyền thống chiến đấu anh hùng của quân và dân ta.

Con đường dẫn vào sân bay xen lẫn đất đỏ, 2 bên là rẫy cà phê của bà con.

Địa chỉ: Sân bay Tà Cơn hiện nay nằm ở xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị. Cách Đông Hà khoảng 65km, cách cửa khẩu Lao Bảo khoảng 20km. Còn nếu từ tượng đài Khe Sanh đi theo đường Hồ Chí Minh Tây gần 3km là thấy tấm bảng di tích, rẽ phải vào chừng 500m là đến.

Giá vé: 50k (năm 2025).

Thời gian mở cửa: từ 7h-18h, xuyên trưa.

Phòng bán vé sân bay Tà Cơn nằm bên tay phải, phía trước là bãi đậu xe dưới những tán cây cao mát rượi.

Sân bay Tà Cơn 1968

Tà Cơn là sân bay quân sự lớn nhất của tuyến phòng thủ Đường 9 – Khe Sanh, nằm trong khu vực thung lũng rộng 60ha. Đây không chỉ là một trong các cứ điểm quân sự chiến lược trên hàng rào điện tử McNamara mà còn chuyên phục vụ việc trinh sát đường không tuyến vận tải chiến lượng Trường Sơn, thực hiện các hoạt động đánh phá căn cứ và bộ đội ta bằng đường không. Với vị trí đặc biệt, sân bay Tà Cơn được xác định là lõi trung tâm của Khe Sanh.

Sân bay cách Đường 9 nối Đông Hà lên Lao Bảo chỉ khoảng 3km nên có thể chi viện bất kỳ khi nào.

Toàn bộ khu vực cụm cứ điểm Tà Cơn dài 2km, rộng 1km, được trang bị đầy đủ các loại vũ khí tối tân hiện đại, hệ thống công sự kiên cố, dày đặc. Riêng sân bay Tà Cơn là sân bay cỡ lớn, rộng 1 ha, làm nơi cất, hạ cánh cho các loại máy bay chuyên vận tải quân sự như C130, C123, trực thăng chở quân, trực thăng vũ trang. Khu vực sân bay lọt thỏm trong một lòng chảo với bốn bề núi non che chắn, có thể đặt hệ thống hỏa lực để bảo vệ. Bên trong có đầy đủ Sở chỉ huy, đài chỉ huy, đài liên lạc…

Đường băng trước đây được lát bằng hàng nghìn tấn ri nhôm và ri sắt nhưng đã bị dỡ hết, giờ cỏ dại mọc lút.

Ngày 9/7/1968 trở thành mốc son đáng nhớ khi lá cờ đỏ sao vàng của ta tung bay trên cứ điểm sân bay Tà Cơn, góp phần kết thúc chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh thắng lợi. Sân bay Tà Cơn nay đã trở thành một điểm đến quen thuộc trong tour DMZ ở Quảng Trị và là địa điểm ưa thích của khá nhiều khách nước ngoài. Năm 1986, di tích sân bay Tà Cơn được xếp hạng di tích Quốc gia.

Chòi quan sát tại sân bay Tà Cơn.

Bảo tàng chiến thắng Đường 9 – Khe Sanh

Đối diện với cổng vào là Nhà Bảo tàng chiến thắng Đường 9 – Khe Sanh, được thiết kế kiểu cách điệu nhà sàn truyền thống của đồng bào nơi đây. Bên trong trưng bày rất nhiều hiện vật, hình ảnh có giá trị về lịch sử, khoa học.

Bom cây nhiệt đới được trưng bày trong bảo tàng.

Bom cây nhiệt đới, tên khoa học là “Tranggen Radio”, vũ khí trinh sát điện tử mà Mỹ đã rải dày đặc khắp đường mòn Hồ Chí Minh để thu tín hiệu hành quân của bộ đội ta. Cơ chế hoạt động của cây nhiệt đới là thu chấn động mặt đất bằng những râu anten phía trên, đối với người cự ly là 25-35m, ô tô là 200-300m sau đó phát tín hiệu lên không trung cho máy bay ở độ cao 15-20km, máy bay lập tức phát thông tin về trung tâm xử lý của Mỹ đặt ở đảo Guam (Thái Lan). Trung tâm phân tích xem loại tiếng động là của người, xe hay thú rừng, xác định tọa độ khu vực, sau đó truyền tín hiệu về sở chỉ huy để điều động máy bay ở khu vực gần nhất đến oanh tạc. Toàn bộ quy trình này chỉ diễn ra trong vài phút. Nhưng sự mưu trí của quân ta đã vô hiệu hóa một số lượng lớn loại bom này bằng nhiều cách khác nhau.

Những hiện vật còn nguyên giá trị lịch sử

Trong khuôn viên sân bay vẫn còn một số hiện vật khá nguyên vẹn, gồm 3 chiếc xe tăng M48, M41, M113, 2 trực thăng CH47 Chinook, UH-1A và 1 máy bay vận tải C130. Đây đều là các phương tiện mà Mỹ đã dùng tại chiến trường Khe Sanh – Tà Cơn vào năm 1968, sau giải phóng chúng ta đưa về trưng bày tại đây.

Trong chiến tranh, chiếc C130 này là máy bay vận tải quân sự hạng trung nổi tiếng của Mỹ, được ví như “lực sĩ bay”, “ngựa thồ”.

Xe tăng số hiệu 480 thuộc loại xe tăng M48 Patton, là dòng xe tăng chiến đấu chủ lực thế hệ xe tăng hạng trung.

Đây là xe tăng M41 Walker Bulldog, loại xe tăng hạng nhẹ nhằm mục đích trinh sát vũ trang.

Chiếc xe số hiệu 978 này là xe M113, dòng xe bọc thép chở quân, bánh xích.

Cả 3 chiếc xe tăng trên đều do Mỹ thiết kế và sản xuất. Ngoài ra còn xác máy bay đã gãy vụn ở một góc sân bay.

Khe Sanh 1966-1968

Hàng rào điện tử Mc Namara

Năm 1966, sau khi thất thủ trên nhiều mặt trận ở chiến trường miền Nam, Mỹ và quân đội Sài Gòn chuyển hướng chặn đánh các trục đường nối giữa 2 miền Nam – Bắc, đặc biệt là Đường 9 và đường mòn Hồ Chí Minh đoạn qua tỉnh Quảng Trị. Từ tháng 6/1966, chúng lập hẳn một hàng rào điện tử chạy dọc tuyến đường này dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ – Robert McNamara – gọi là hàng rào McNamara. Hàng rào rộng khoảng 10-20km, dài khoảng 100km chạy từ cảng Cửa Việt theo Đường 9, qua Làng Vây, Khe Sanh (Hướng Hóa) thẳng đến biên giới Việt – Lào, sang tận Mường Phìn (Lào).

Những vỏ đạn pháo 155mm cùng hàng chục vỏ bom đạn là chứng tích một thời.

Nó gồm hệ thống 17 căn cứ quân sự; Hàng rào dây thép gai gồm 12 lớp kẽm gai chồng lên nhau, cao 3m với các kiểu mái nhà, mắt cáo, ô vuông, khung cửa và trên mặt có cài mìn tự động; Phía trước hàng rào là bãi mìn dày đặc trong vòng 500m – 700m gồm mìn chống tăng, mìn voi, từ trường, mìn muỗi, mìn bướm, mìn lá, mìn ba càng…, xung quanh cứ điểm thì được bố trí dày hơn; Thiết bị trinh sát điện tử mặt đất và trên không như ra đa, máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn, cây nhiệt đới… giúp phân tích tiếng động của người, xe hay thú rừng, xác định tọa độ một cách chính xác. Trên trời, máy bay liên tục rà để chỉ điểm cho pháo, bom tọa độ từ các căn cứ trên hàng rào phát hỏa, tiêu diệt mục tiêu. Ước tính khoảng 2 tỷ USD đã đổ ra cho hệ thống mắt thần McNamara này với kỳ vọng trở thành hàng rào bất khả xâm phạm.

Những vỏ đạn pháo phủ đầy căn cứ Tà Cơn năm 1968. Ảnh chụp lại từ Nhà bảo tàng. 

  • Góc nhỏ: Trước khi hàng rào điện tử McNamara được dựng lên gần 1 năm, ông Lê Viết Trinh, nguyên Tổ trưởng Tổ tình báo B8 thuộc Công an vũ trang huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị cũ) là người đầu tiên vẽ mô phỏng nó. Bản này tuy không hoàn toàn giống bản thực tế nhưng là tài liệu tham khảo đáng tin cậy.

Cứ điểm quan trọng Khe Sanh

Nằm cách ngã 3 biên giới Việt – Lào chỉ 20km, Khe Sanh được xác định là 1 trong 3 mắt thần của hàng rào điện tử McNamara. Tại đây, Mỹ xây dựng một tập đoàn cứ điểm mạnh gồm chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và sân bay Tà Cơn. Khu vực này được trang bị đầy đủ các loại vũ khí tối tân, hiện đại lúc bấy giờ, có máy bay B52 yểm trợ, binh lính tinh nhuệ.

Hệ thống giao thông hào trong sân bay Tà Cơn, cao khoảng 1.8m.

Đây là một bức tường thép, vừa phòng ngự phía Tây Bắc chiến trường Trị Thiên, vừa là mỏ neo chốt chặn về phía Tây của hệ thống phòng thủ chiến lược khu DMZ. Tại đây có thể kiểm soát đường chi viện vào Nam của ta từ phía Bắc và từ nước bạn Lào. Đồng thời, Khe Sanh cũng đóng vai trò là bàn đạp cho các cuộc hành quân càn quét theo đường bộ và đường không, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh và dễ dàng chi viện xuống quốc lộ 1. Vì tầm quan trọng đó, trên Đường 9 đoạn từ Cửa Việt đến Lao Bảo tập trung đến 45 nghìn quân, trong đó có 28 nghìn quân Mỹ. Riêng tại căn cứ Khe Sanh, vào những tháng cuối năm 1967 đầu năm 1968 có hơn 6 nghìn quân đồn trú Mỹ.

Đa phần công sự ở sân bay Tà Cơn, một mắt xích quan trọng trong hàng rào McNamara, đã bị phá hủy hoàn toàn trong chiến tranh, sau này mới được phục dựng lại.

Do vị trí quan trọng như vậy nên địch phán đoán rằng ta sẽ thực hiện trận quyết chiến chiến lược ở Khe Sanh trong đông – xuân 1968. Với sự tương đồng về địa hình lòng chảo và vị trí chiến lược giữa Khe Sanh và Điện Biên Phủ, Mỹ cho rằng đây sẽ là “Điện Biên Phủ đảo ngược” ở Khe Sanh nhằm chứng tỏ sức mạnh vượt trội của mình, đè bẹp hào khí Điện Biên năm xưa của ta. Tướng Westmoreland, Chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam giai đoạn 1964-1968, đã mời chuyên gia sử học quân sự phân tích về trận Điện Biên Phủ năm 1954 để rút kinh nghiệm. Để củng cố Khe Sanh, tính đến cuối tháng 1/1968 có đến 40% số tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp mà Bộ chỉ huy quân sự Mỹ đang có tại Việt Nam được điều về Khe Sanh.

Hầm công sự ở Tà Cơn, phía sau là lối giao thông hào.

Giai đoạn này Mỹ đang bước vào đợt vận động tranh cử tổng thống nhiệm kỳ mới nên mọi động tĩnh trên chiến trường Việt Nam đều trở nên nhạy cảm với chính trị Mỹ. Tổng thống Mỹ – Johnson – còn chỉ thị cho tướng Taylor thành lập “Phòng tình hình đặc biệt” tại Nhà Trắng, làm sa bàn Khe Sanh, đích thân theo dõi tình hình Khe Sanh qua các báo cáo hàng ngày từ tướng chỉ huy chiến trường là Westmorland. Westmorland còn phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ. Thậm chí, Mỹ còn có ý tưởng dùng vũ khí nguyên tử nhằm giải vây quân Mỹ ở Khe Sanh – điều này sau những năm 2000 mới được tiết lộ.

Hầm công sự ở sân bay Tà Cơn, được đào sâu xuống mặt đất hơn 2m.

Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh: Bản hùng ca trên miền đất thép

Trong khi Mỹ dồn lực về Khe Sanh thì ta lại thực hiện các trận mùa khô 1965-1966, 1966-1967 trên nhiều đô thị miền Nam hòng phá vỡ Chiến tranh cục bộ của Mỹ, đồng thời Mỹ cũng bị động và mắc cạn tại Khe Sanh khi ta chuyển sang tấn công các mặt trận khác.

Sơ đồ các hướng tấn công trong Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh. Ảnh tư liệu.

Tháng 4/1966, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị, còn gọi là Mặt trận B5. Mục tiêu là tiêu diệt sinh lực địch ở miền Tây Quảng Trị để chia lửa cho các chiến trường khác. Ngày 6/12/1967 Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh được thành lập, thực hiện tác chiến nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, với quyết tâm “Biến Khe Sanh thành địa ngục trần gian của quân Mỹ”. Phía ta có 4 sư đoàn bộ binh, 1 đoàn và 5 đại đội đặc công, 5 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh, 4 đại đội xe tăng, 1 đội súng phun lửa và các lực lượng bảo đảm khác. Đây là lần đầu tiên ta tổ chức một chiến dịch tập trung quy mô lớn các lực lượng hiệp đồng tác chiến trên chiến trường miền Nam. Đêm 20/1/1968 Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh mở màn, gồm 4 đợt:

  • Đợt 1: 20/1 – 7/2/1968: ta tiêu diệt các cứ điểm phía Tây, bao vây Tà Cơn. Chiến thắng cứ điểm Làng Vây diễn ra trong đợt này.
  • Đợt 2: 10/2 – 31/3/1968: vây lấn Tà Cơn. Chỉ riêng đợt 1 và 2, Mỹ đã sử dụng đến 24.000 lần chiếc máy bay chiến thuật, 2.700 lần pháo đài bay B52, dội xuống khu vực Khe Sanh 100.000 tấn bom; bắn 150.000 quả pháo, tạo ra những trận bão lửa hòng đánh bật quân ta ra khỏi khu vực Khe Sanh.
  • Đợt 3: 1/4 – 30/4/1968: đánh lực lượng chi viện của địch đến Khe Sanh.
  • Đợt 4: 8/5 – 15/7/1968: đánh mạnh vào Tà Cơn, đuổi địch khỏi Khe Sanh, kết thúc chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh.

Đỉnh cao được khoanh màu vàng trong hình là đồi Động Tri. Cứ điểm này của Mỹ không chỉ bảo vệ trực tiếp sân bay Tà Cơn, mà còn là “con mắt” của Khe Sanh bởi độ cao hơn hẳn các vị trí khác trong vùng, tạo nên điểm quan sát lý tưởng. Đây cũng là nơi ghi dấu cuộc tấn công quyết liệt của ta để giành lại cứ điểm này, đã được đưa vào nhiều ca khúc.

Qua 177 ngày đêm chiến đấu liên tục, vô cùng anh dũng và quyết liệt, ta đã phá vỡ mảng tuyến phòng thủ Đường 9 của địch, giải phóng Hướng Hóa, khiến địch vô cùng khiếp sợ. Địch hao tổn 17000 quân, 480 máy bay bị bắn rơi và phá hủy, 120 xe quân sự, 65 đại bác và súng cối cỡ lớn, 55 kho xăng và đạn, thu hồi hàng ngàn súng các loại. Thành công của chiến dịch là sự kết hợp của việc vừa tiến công vây hãm quân địch trong căn cứ vừa đánh địch đến chi viện và rút chạy; từ lực lượng bộ binh là chính chuyển sang tác chiến hiệp đồng binh chủng với sự tham gia lần đầu tiên của lực lượng tăng – thiết giáp.

Chiến thắng Khe Sanh khiến Mỹ phải thừa nhận thất bại trong xấu hổ. “Việc rút lui khỏi Khe Sanh không đơn giản chỉ bỏ rơi một yếu điểm mà còn là rời bỏ một ảo tưởng và một chính sách. Tất cả nỗ lực của Hoa Kỳ đã tan ra tro như những pháo đài xi măng cốt sắt ở Khe Sanh” (Đài BBC ngày 30/6/1968). “Khe Sanh đã được ghi vào lịch sử cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam như một nơi phải trả giá đắt nhất bằng máu” (Reuters ngày 2/7/1968).

Hoa lại nở trên miền đất thép. Nơi đây giờ trở thành điểm chụp hình cưới của khá nhiều bạn trẻ.

-Việt An-

Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn!

2 comments

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *