Tui đến bến Vàm Lũng bằng một sự tình cờ khi nhỏ bạn Kim Anh lướt lướt trên Google maps và phát hiện ra. Trời đất, tui không ngờ lại may mắn như vậy khi chỉ trong một chuyến đi rẹt rẹt đến cực Nam tổ quốc mà được đến thăm điểm cuối của đường Hồ Chí Minh trên biển lẫn trên bộ. Quá trời sung sướng luôn.
Bến tàu không số Vàm Lũng (Cà Mau) được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 26/11/2024. Đợt này có 4 bến tàu chính của đường Hồ Chí Minh trên biển được xếp hạng. Ba bến tàu còn lại là bến K15 (Tp. Hải Phòng), bến Vũng Rô (tỉnh Phú Yên), bến Lộc An (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Trong 10 năm hoạt động từ 1962-1971, bến tiếp nhận vũ khí Vàm Lũng – với mật danh B1 – vinh dự vừa là bến đầu tiên, đón chuyến tàu đầu tiên của con đường Hồ Chí Minh trên biển; đồng thời cũng là điểm cuối cùng của con đường huyền thoại này. Bến Vàm Lũng – Kiến Vàng đã đón 68 chuyến tàu trong tổng số 76 chuyến cập cụm bến Cà Mau.
Cả 3 cánh cổng của khu di tích đều mô phỏng hình con thuyền, phía trên là cánh buồm căng gió ra khơi, phía dưới (trên cánh cửa sắt) là đôi mắt thuyền.
Địa chỉ: Bến tàu không số Vàm Lũng hiện nay thuộc xã Phan Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (Trước đây là Khóm 8, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Địa chỉ này rất dễ tìm vì nằm ngay trung tâm xã, phía sau UBND xã Phan Ngọc Hiển, đường đi được thảm nhựa rất êm. Sau lưng di tích chính là sông Rạch Gốc. Link Google maps: tại đây.
Giá vé: miễn phí vé tham quan.
1. Tượng đài chiến thắng đường Hồ Chí Minh trên biển
Sừng sững ngay tâm điểm của khu di tích là tượng đài chiến thắng đường Hồ Chí Minh trên biển và 2 phù điêu ở hai bên, nằm giữa một đường viền hình tròn. Tượng đài chính cao 10.62m, thể hiện hình ảnh 3 người thủy thủ trên con thuyền cưỡi sóng bạc đầu tiến tới. Một chiến sĩ ở giữa vừa quan sát ống nhòm vừa điều khiển bánh lái. Hai chiến sĩ hai bên vững vàng tay súng, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ tàu. Cả ba cùng hướng thẳng về phía trước, rắn rỏi bất khuất.
Cụm tượng đài và phù điêu trong khu di tích, bên phải là tấm bảng phóng to của Quyết định xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2024.
Hai bên tượng đài là tấm phù điêu cũng mang hình con tàu. Bên trên khắc họa hình ảnh đồng bào chiến sĩ miền Nam; có bà má bịn rịn chia tay cô chiến sĩ nhỏ, có người chèo đò, có người đang vận chuyển các thùng đạn, có người cầm súng chiến đấu; và bao quanh tất cả những rặng dừa nước ven các dòng kênh. Tổng thể cả cụm tượng đài và phù điêu mang hình dáng 3 con tàu đang thẳng tiến về 3 hướng như các mũi giáp công, tạo nên một thế trận vững chắc.

2. Các hạng mục khác của di tích
Bên phải của cụm tượng đài là nhà trưng bày, nơi lưu giữ những dấu ấn oai hùng, những chiến công thầm lặng của quân và dân của những ngày chiến đấu trong lòng địch nơi đây.
Ngoài ra, điểm nhấn ấn tượng là khu vực mô hình hóa tuyến vận chuyển hàng hóa ở phía sau khu di tích, cạnh con rạch nhỏ dẫn ra sông Rạch Gốc. Một lối đi nhỏ len lỏi dưới tán rừng ngập mặn, các mô hình người sáp mô phỏng các chiến sĩ đang vận chuyển vũ khí, gian nhà tranh làm nơi tiếp nhận hàng và cả chiếc xuồng con nằm kế bên.
Mô phỏng lối mòn dỡ hàng, kho tiếp nhận hàng chiến lược năm xưa.
3. Theo dòng lịch sử
Tháng 2/1961 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương yêu cầu các tỉnh Nam bộ chuẩn bị bến bãi và lực lượng để tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Trước đó, Trung tướng Trần Văn Trà, Tổng tham mưu phó Quân ủy Trung ương được giao phụ trách mở tuyến vận tải Bắc Nam trên biển. Ngày 23/10/1961, Đoàn 759 vận tải thủy – đơn vị tiền thân Lữ đoàn 125 (Bộ Tư lệnh Hải quân) được thành lập để đáp ứng nhiệm vụ này.
Nhận được Chỉ thị của cấp trên, Tỉnh ủy Cà Mau tổ chức chuyến tàu ra Bắc báo cáo tình hình và tiến hành vận chuyển vũ khí về Cà Mau. Ngày 1/8/1961, chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ rạch Cá Mòi, Mũi Cà Mau với đoàn thủy thủ gồm 8 người: đ/c Bông Văn Dĩa (chỉ huy kiêm Bí thư Chi bộ), Tư Phước, Ngô Văn Tần (Năm Kỷ), Nguyễn Dũng (Sáu Dũng), Bảy Cửa, Trần Văn Đáng (Ba Cụt), Võ Tấn Thành (Ba Thành), Tư Quang (Hai Chiếu). Dụng cụ chỉ đường rất thô sơ, chỉ là một địa bàn, một cây thước bằng lá dừa nước, một bản đồ Việt Nam in trên bìa vở học trò. Đến ngày 7/8/1961, tàu cập bến sông Nhật Lệ (Quảng Bình) nhưng bị nghi là biệt kích Sài Gòn nên đoàn bị tạm giữ tại đồn công an Vàm Nhật Lệ để thẩm vấn. Sau khi xác minh là “người mình”, đoàn được về nhà khách Quảng Bình nghỉ ngơi rồi về Hà Nội học tập văn hóa và học tập mô hình ở nhiều nơi. Đầu tháng 4/1962, đoàn được lệnh quay về để báo cáo tình hình với Khu ủy Nam bộ. Đêm ngày 10/4/1962, tàu rời cửa sông Nhật Lệ và đến 22h ngày 18/4/1962 đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn.
- Góc nhỏ: Anh hùng LLVTND Bông Văn Dĩa (1905-1982), là người con ấp Rạch Gốc của chính vùng đất này. Ông bước vào con đường cách mạng dưới sự dẫn dắt của đ/c Phan Ngọc Hiển. Ông từng tham gia khởi nghĩa Hòn Khoai, bị bắt giam ở nhà tù Côn Đảo, mở đường vận chuyển vũ khí từ Thái Lan – Campuchia – miền Tây Nam bộ trong kháng chiến chống Pháp. Sau này ông mới nhận nhiệm vụ là Chính trị viên tàu Phương Đông 1, mở ra chuyến tàu đầu tiên của tuyến đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển.

Sau khi tàu trở về, Khu ủy khu 9 cử đ/c Bông Văn Dĩa đi khảo sát các phương án tổ chức xây dựng bến bãi tiếp nhận vũ khí mà Bộ Quốc phòng dự kiến, gồm:
- – Phương án 1: Chọn các đảo Thổ Chu, Phú Quốc, Nam Du, Hòn Ông, Hòn Bà, ở vùng biển Tây Nam để xây dựng các hầm cất giấu hàng. Kết quả, đảo Thổ Chu đảm bảo địa hình nhiều đảo, có chỗ cất giấu hàng nhưng lại quá xa bờ. Đảo Phú Quốc, Nam Du dân cư đến làm ăn khá đông, bất lợi cho việc đảm bảo bí mật thông tin. Đảo Hòn Ông, Hòn Bà lúc đó do lực lượng Campuchia đóng giữ.
- – Phương án 2: Chọn khu vực Hòn Chuối và cửa sông Bảy Háp làm nơi chuyển hàng hoặc thả hàng xuống biển để ngư dân ra đánh cá trà trộn bí mật vớt hàng lên rồi chuyển vào bờ. Tuy nhiên phương án này khá mạo hiểm vì dễ lộ và bị mất hàng.
- – Phương án 3: Chọn các cửa sông khu vực Cà Mau làm nơi dự phòng nhận chuyển hàng vào, nếu phương án 2 không thực hiện được. Đây là phương án khả thi hơn cả, đặc biệt Vàm Lũng là nơi tiếp nhận thuận lợi nhất.
Căn cứ kết quả thực địa, Khu ủy khu 9 đồng ý phương án 3. Tiếp đó, tiến hành di dân ra khỏi cửa sông, rạch từ biển vào khoảng 5-10km, ổn định vành đai bên ngoài căn cứ. Sông Vàm Lũng và Kiến Vàng được chọn làm bến tiếp nhận chính; Sông Rạch Gốc, Bồ Đề, Cái Bần, Rạch Già là bến dự bị. Tổng kho dọc theo sông Đường Đào, đoạn từ Cửa Rạch Gốc đến kênh Biện Nhạn, chiều sâu vào đến Cạnh Đền, Chim Đẻ (Các địa danh này hiện nay thuộc xã Phan Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Địa điểm này tuy xa bến nhận hàng chính nhưng lại thuận tiện cho việc vận chuyển vũ khí ra chiến trường qua sông Bảy Háp, Vàm Đầm, Bàu Sen, Tân Duyệt (thuộc xã Đầm Dơi ngày nay). Từ cửa Bồ Đề đến cửa Vàm Lũng, Tân Ân dài hơn 60km, hơn 800 hộ dân nhưng chưa đầy 3 tháng, bà con đã tự nguyện di dời xong. Điều này có công rất lớn của công Chung Thành Châu (ông Sáu Toàn), Chính ủy đơn vị HN 75 (tiền thân của Đoàn 962), một trong những người đầu tiên tham gia mở bến Cà Mau. Trung ương giao cho ông 9 tháng để thuyết phục bà con di dời, và ông chỉ mất 1/3 thời gian để hoàn thành.
Con đường dẫn tới trung tâm xã Phan Ngọc Hiển nằm dưới những tán cây xanh mát. Ảnh chụp lúc mặt trời đã buông xuống.
4. Điểm đến quan trọng của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển
Bến Vàm Lũng đã trở thành điểm cập bến quan trọng nhờ vào việc bởi sở hữu nhiều lợi thế: nằm ở ngã ba sông, chiều rộng hơn 100m, sâu 4-5m, thuận tiện cho việc neo đậu cũng như ra khơi của tàu thuyền, thậm chí là tàu trên 30 tấn. Địa hình nơi đây khá kín đáo, bên dưới là hệ thống kênh rạch chằng chịt đặc trưng của sông nước Nam bộ, bên trên là rừng đước, rừng mắm ken dày che phủ nên máy bay địch và thám báo khó lòng phát hiện. Nhờ vậy, rất thuận lợi cho việc vận chuyển vũ khí bằng đường thủy, cũng như cất giấu hàng hóa dưới cánh rừng. Điều quan trọng hơn nữa là sự hy sinh thầm lặng của bà con Rạch Gốc. Ngày đó, để có bến cảng an toàn, hơn 1000 người dân phải di dời và tất cả đều tự nguyện. Bến cảng không có hàng rào, chỉ có nhân dân đùm bọc, bảo vệ, chở che vòng ngoài. Một thế trận lòng dân vững chắc như vậy nên dù nằm bên cạnh lòng địch (chi khu quân sự của địch ở Năm Căn chỉ cách khoảng 35km) nhưng Vàm Lũng vẫn an toàn suốt thời gian hoạt động (1962-1971).
Đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ đầu tiên mang tên Phương Đông 1 rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) chở 30 tấn vũ khí an toàn cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) vào ngày 16/10/1962, sau đó đưa về rạch Chùm Gộng để lên hàng. Tiếp đó, trong vòng 2 tháng các tàu Phương Đông 2, 3, 4 lần lượt cập bến Vàm Lũng, mang theo 111 tấn vũ khí, thuốc men tiếp viện cho Quân khu 9. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên, 3 con tàu này được sửa chữa và trở ra Bắc để tiếp tục nhiệm vụ vận chuyển, còn tàu Phương Đông 1 được sử dụng tại bến. Dấu mốc thắng lợi của việc hình thành một tuyến vận tải quân sự chiến lược trên biển có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta.
Tượng đài đường Hồ Chí Minh trên biển trong khu di tích.
Như vậy, cụm bến Cà Mau với 4 bến tàu không số đã tiếp nhận nhiều tàu và vũ khí nhất thời kỳ đó so với các bến còn lại. Từ chuyến tàu đầu tiên cập bến Vàm Lũng an toàn vào ngày 16/10/1962 đến chuyến tài cuối cùng cập bến Hố Cùi (xã Đầm Dơi ngày nay) ngày 5/4/1971, các bến tàu không số ở Cà Mau đã tiếp nhận 76 chuyến tàu với 4294 tấn hàng quân sự, kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam. Chiến công thầm lặng của những đoàn tàu không số, của bà con nhân dân Cà Mau, của các chiến sĩ thủy thủ bước lên tàu đồng nghĩa với việc dũng cảm chấp nhận hy sinh là những dấu ấn hào hùng, góp phần làm nên đại thắng mùa xuân 1975.

-Việt An-
| Vui lòng trích nguồn: "An Hằng's blog" khi đăng lại bài của blog này. Cảm ơn các bạn! |




